vanban.org

Bản án 43/2018/DS-PT — Dân sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 27/03/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/03/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông K’P, bà K’Ch.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2017/DS-ST n ày 19 thán 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, cụ th như sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của n uy n đơn ôn K’Ch về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản” đối với bị đơn ôn K’P, bà K’Ch. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Chung - Pô mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông K’P, bà K’Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430 Bộ luật Dân sự; Điều 440 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018/DS-PT
Ngày: 27 - 3 - 2018
V/v tranh hợp đồng dân sự
mua bán tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Bùi Hữu Nhân

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Mừng

Bà Vũ Thị Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- i di n i n i m át nh n d n t nh m ồng: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - i m sát vi n tham ia phi n tòa

Ngày 27 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 13/2018/TLPT-DS ngày 30 tháng 01 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2017/DS-ST n ày 19 thán 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 39/2018/QĐ-PT ngày 27/02/2018, giữa các đươn sự:

- Nguyên đơn: Ông K’Ch, sinh năm: 1946; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông K’P, sinh năm: 1963; bà K’Ch, sinh năm: 1960; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người kháng cáo: Ông K’P, bà K’Ch – Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm,

Tại đơn khởi kiện ngày 20/02/2017, ngày 22/5/2017 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông K’Ch trình bày:

Năm 2008, ôn K’Ch nhờ ôn ’L là trưởng Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng lập danh sách các hộ dân có nhu cầu mua phân bón hóa học các loại đ ông K’Ch trực tiếp bán phân bón cho các hộ dân theo danh sách Tron đó, ông K’P, bà K’Ch mua 1.050kg phân NPK, 320kg phân hữu cơ với tổng số tiền là 15 956 000 đồng. Ông K’Ch đã y u cầu ông K’P, bà K’Ch trả tiền nhiều lần và đến ngày 16/02/2015, ông K’P, bà K’Ch ký giấy khất nợ và hẹn đến ngày 30/01/2016 sẽ trả toàn bộ số tiền nợ mua phân bón nhưn đến nay chưa trả. Nay ông K’Ch yêu cầu Tòa án buộc ông K’P, bà K’Ch phải trả cho ông số tiền nợ mua phân bón là 15 956 000 đồng.

Bị đơn ông K’P, bà K’Ch trình bày:

Ông K’P, bà K’Ch thừa nhận lời trình bày của ông K’Ch là đún Tuy nhiên, ông K’P, bà K’Ch không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K’Ch vì lý do phân kém chất lượng làm ảnh hưởn đến cây trồng.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưn khôn thành

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2017/DS-ST n ày 19 thán 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ đã xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của n uy n đơn ôn K’Ch về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản” đối với bị đơn ôn K’P, bà K’Ch.

Buộc bị đơn ôn K’P, bà K’Ch phải thanh toán số tiền nợ mua bán phân bón theo hợp đồn cho n uy n đơn ôn K’Ch với số tiền là 15 956 000 đồng.

Ngoài ra, quyết định của bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đươn sự.

Ngày 08/10/2017, bị đơn ông K’P, bà K’Ch làm đơn khán n hị nhưn thực tế là nội dun khán cáo, đến n ày 17/10/2017 thì làm đơn khán cáo đều có nội dun khôn đồn ý đối với toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2017/DS-ST n ày 19 thán 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông. Yêu cầu hủy bản án dân sự sơ thẩm nói trên của Tòa án nhân dân huyện Đam Rôn , buộc ông K’Ch phải bồi thường cây cà phê chết năm 2008, 2009, 2010 theo đơn iá của nhà nước do ông bà phải trồng lại cà phê mới và đầu tư mới.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông K’P, bà K’Ch vẫn giữ nguyên yêu cầu khán cáo và đề nghị chấp nhận kháng cáo. Về phía n uy n đơn ông K’Ch không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông K’P, bà K’Ch, đề nghị giải quyết như bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát bi u ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của n ười tham gia tố tụng, cụ th Thẩm phán đã chấp hành đún các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đươn sự đã thực hiện đún các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa dân sự phúc thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông K’P, bà K’Ch; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện ki m sát tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xuất phát từ việc n uy n đơn ông K’Ch cho rằng, ông K’P, bà K’Ch có nợ ông số tiền mua phân bón là 15.956 000 đồn , ôn đã đòi nhiều lần nhưn ông K’P, bà K’Ch không trả nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông K’P, bà K’Ch phải trả cho ông số tiền đã mua phân bón còn nợ là 15 956 000 đồng. Còn bị đơn ông K’P, bà K’Ch thừa nhận có mua phân bón và nợ ông K’Ch số tiền mua phân bón là 15 956 000 đồn nhưn lại cho rằng do phân bón kém chất lượng làm ảnh hưởn đến cây trồng của ông K’P, bà K’Ch n n khôn đồn ý đối với yêu cầu khởi kiện của n uy n đơn.

Vì vậy, hai bên phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đún pháp luật.

Xét kháng cáo của bị đơn ông K’P, bà K’Ch, thì thấy rằng:

Theo Biên bản lấy lời khai của đươn sự ngày 13/7/2017 thì ông K’P, bà K’Ch thừa nhận có mua phân bón của n uy n đơn ôn K’Ch khoảng 1,2 tấn trị iá 15 956 000 đồn , đến nay chưa trả, lý do chưa trả là do phân kém chất lượng (bút lục số 26).

Theo tài liệu có ti u đề “Giấy khất nợ” bị đơn ông K’P, bà K’Ch thừa nhận có nợ n uy n đơn ông K’Ch số tiền mua phân bón là 15 956 500 đồng, hẹn trả hết vào ngày 30/01/2016, có chữ ký xác nhận của ông K’P (bút lục số 20);

Bị đơn ông K’P, bà K’Ch cho rằng phân bón do ông K’Ch bán cho ông bà kém chất lượng làm ảnh hưởn đến cây trồng nên khôn đồng ý trả số tiền 15 956 000 đồng cho ông K’Ch.

Ngoài ra, bị đơn ông K’P, bà K’Ch còn yêu cầu ông K’Ch phải bồi thường thiệt hại về cây trồng thì thấy rằng, theo biên bản làm việc ngày 23/6/2008 về việc ki m tra chất lượn phân bón đối với loại phân NPK 16-16-8-133 của Công ty TNHH phân bón Thi n Phúc thì đoàn ki m tra xác định có khả nghi phân bón kém chất lượn và đã tiến hành ki m tra lý tính mẫu phân và lấy mẫu ngẫu nhi n đ gửi đi xét n hiệm tính chất hóa học của phân bón n u tr n, sau đó ửi phân tích tại Viện nghiên cứu hạt nhân với kết quả phân tích cho thấy hàm lượng các chất hóa học Nitơ, ali, Photpho thấp hơn nhiều so với quy định (bút lục số 54). Theo đó, n ày 27/10/2008 Côn an huyện Đam Rôn lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông K’Ch vì có hành vi vi phạm tron lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm hàng hóa với nội dung kinh doanh phân bón vô cơ kém chất lượng trên địa bàn huyện Đam Rôn (bút lục số 53).

Ngày 21/11/2008, Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định số 1229/QĐ-UBND về việc xử phạt vi phạm hành chính tron lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm hàn hóa đối với ông K’Ch đối với hành vi buôn bán sản phẩm, hàng hóa có mức chất lượng thực tế khôn đạt mức chất lượng mà nhà sản xuất đã côn bố tiêu chuẩn chất lượng, với hình thức phạt tiền, số tiền phạt là 2 000 000 đồng (bút lục số 51).

Như vậy, việc n uy n đơn ôn K’Ch bị xử phạt hành chính cho thấy vi phạm của n uy n đơn ôn K’Ch trong việc kinh doanh phân bón kém chất lượng là có thật. Ngoài ra, theo Biên bản xác minh ngày 19/4/2010 th hiện các loại phân bón khi tiến hành xác minh thì đã hết hạn sử dụng, có loại phân không ghi ngày sản xuất, không ghi hạn sử dụn n n khôn đủ điều kiện đ lấy mẫu thực hiện iám định (bút lục số 57). Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ nào xác định việc bán phân bón kém chất lượng của n uy n đơn ông K’Ch gây thiệt hại đến cây trồn , cũn khôn có tài liệu, chứng cứ nào xác định giá trị thiệt hại khi sử dụng phân bón kém chất lượng do vợ chồng ông ông K’P, bà K’Ch mua của đại lý do ông K’Ch cung cấp .

Mặt khác, tại Tòa án cấp sơ thẩm bị đơn ông K’P, bà K’Ch không có yêu cầu phản tố về việc buộc ông K’Ch phải bồi thường thiệt hại nên Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết, do đó Tòa án cấp phúc thẩm cũn khôn có cơ sở đ xem xét đối với kháng cáo của bị đơn ông K’P, bà K’Ch về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do cây cà phê bị chết.

Với những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh iá đún tính chất của vụ án, về việc buộc ông K’P, bà K’Ch phải thanh toán cho ông K’Ch số tiền 15 956 000 đồng là có căn cứ.

Do đó, khôn có cơ sở đ chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông K’P, bà K’Ch, nên Tòa án cấp phúc thẩm cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Do khán cáo khôn được chấp nhận nên bị đơn ông K’P, bà K’Ch phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, do ông K’P, bà K’Ch là dân tộc thi u số, có giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận n hèo iai đoạn 2016 – 2020 (bút lục số 24) và ông K’P, bà K’Ch có đơn xin miễn nộp án phí (bút lục số 48) nên ông K’P, bà K’Ch thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ án phí theo quy định tại đi m đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông K’P, bà K’Ch.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2017/DS-ST n ày 19 thán 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, cụ th như sau:

Căn cứ vào các Điều 430, 440 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của n uy n đơn ôn K’Ch về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản” đối với bị đơn ôn K’P, bà K’Ch.

Buộc bị đơn ôn K’P, bà K’Ch phải thanh toán số tiền nợ mua bán phân bón cho n uy n đơn ôn K’Ch với số tiền là 15.956 000 đồng (Mười lăm triệu chín trăm năm sáu n àn đồng).

K từ n ày n ười được thi hành án có đơn y u cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả số tiền lãi tươn ứng với thời gian chậm trả tại thời đi m thanh toán, theo quy định khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

Bị đơn ông K’P, bà K’Ch được miễn nộp toàn bộ án phí dân sự.

Hoàn trả cho n uy n đơn ông K’Ch số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 399.000 đồng, theo biên lai thu số 0003978 ngày 14/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đam Rôn .

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì n ười được thi hành án dân sự, n ười phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ