vanban.org

Bản án 43/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Vang, TP. Huế Tuyên án 26/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUY N PHÚ VANG
T NH TH A TH ÊN HU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2017/HSST
Ngày: 26/12/2017

NHÂN DANH

NƢ C C NG H A X H CHỦ NGH A V TNAM

T A N NHÂN DÂN HUY N PHÚ VANG, T NH TH A THIÊN– HU

* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Cẩn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Hạ Uyên, nghề nghiệp: Công chức;

Nơi công tác: Phòng Văn hóa thông tin huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

2. Bà Trần Thị Ngọc Nga, nghề nghiệp: Công chức;

Nơi công tác: UBND xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Tôn Thất Nhật Tài, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở huyện Phú Vang (địa chỉ: Tổ dân phố Hòa Đa Tây, thị trấn Phú Đa, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế), xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 38/2017/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Viết K, giới tính: Nam; sinh ngày 26/5/1952, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Số 12/2 Kiệt 10 đường L, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Cán bộ Hưu trí; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Viết N (chết) và bà Nguyễn Thị H (chết); gia đình có 07 anh em, bị cáo là con đầu; có vợ là Phan Thị H, sinh năm 1955; có 03 con: Lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1988.

- Quá trình nhân thân: Nhỏ sống với cha mẹ học hết lớp 12/12 thì nghỉ học đi quân dịch. Năm 1975 về nhà sống với gia đình, lập gia đình làm công nhân đến năm 2011 thì nghỉ hưu ở tại số 12/2 Kiệt 10, đường L (thuộc tổ 05, khu vực 02) phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt.

* Người bị hại: Ông Trần Xuân T, sinh năm 1967; trú tại: Số 34 đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, (đã chết ngày 08/6/2017).

* Đại diện hợp pháp của người bị hại:

1. Bà Phan Thị V, sinh năm 1968 (là vợ của người bị hại); trú tại: Số 34 đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Chị Trần Thị Phương Uyên, sinh ngày 28/04/1989 (là con của người bị hại trú tại: Số 34 đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Chị Trần Thị Phương Oanh, sinh ngày 23/12/1990 (là con của người bị hại); trú tại: Số 34 đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin xét xử vắng mặt).

4. Chị Trần Thị Phương Nhi, sinh ngày 26/12/1994 (à con của người bị hại); trú tại: Số 34 đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 18giờ 40 phút, ngày 28/01/2017, Nguyễn Viết K điều khiển xe mô tô 75FD-0763, phía sau chở vợ là Phan Thị H (ở tại số 12/2, Kiệt 10, đường L, phường V, thành phố H) lưu thông trên cầu chợ D theo hướng P – P1. Khi đến gần ngã ba đường vòng xuống cầu, K đã điều khiển xe chuyển hướng sang bên trái ở phần đường có vạch dọc liền để đi xuống cầu thì va chạm với xe mô tô 75L2-2373 do ông Trần Xuân T (sinh năm 1967, trú tại số 34 đường T, phường T, thành phố H) điều khiển theo hướng ngược lại gây tai tạn. Hậu quả: Ông Trần Xuân T bị thương cấp cứu tại bệnh viện Trung ương H đến ngày 08/6/2017 thì tử vong.

Kết quả dựng hiện trường vụ tai nạn giao thông trên cho thấy:

Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn giao nhau giữa đường Nguyễn Sinh C với đường dẫn cầu Chợ D thuộc thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đường Nguyễn Sinh C tại nơi xảy ra tai nạn mặt đường nhựa rộng 9m, bên trái bên phải đường có vạch vôi trắng liền cách mép đường nhựa 0.2m. Độ mở của đường nhựa tại nơi giao nhau rộng 42m.

Đường dẫn cầu chợ D mặt đường bằng nhựa rộng 13m. Ở giữa đường tại nơi giao nhau có vạch vôi trắng đứt quảng, không liền lằm vạch phann cách, cách mép phải đường nhựa là 6,50m.

Bên trái, bên phải đường Nguyễn Sinh C được xác định theo chiều H- P. Bên trái, bên phải đường dẫn cầu Chợ D được xác định theo chiều P – P1.

Điểm mốc của vụ tai nạn được chọn là cột đèn số 31 ở bên phải đường dẫn cầu Chợ D.

Điểm va chạm giữa hai xe 75FD - 0763 và 75L2-2373 trên mặt đường được xác định: Nằm ở phần đường bên phải đường dẫn cầu Chợ D trên mặt đường nhựa, cách trục bánh trước của xe mô tô 75FD-0763 về hướng P là 0.32m và cách vạch vôi trắng giữa đường là 2.10m. Điểm va chạm cách tâm đường giao nhau về hướng P1 là 18m và cách điểm đầu phía P1 của vạch vôi không liền tại nơi giao nhau về phía bên phải đường cầu chợ D là 2.30m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn:

- Xe mô tô 75FD-0763:

+ Mang xe bên phải bị vỡ diện (42x10)cm;

+ Mũi chắn bùn bánh trước bị xước phần sơn màu xanh dài 3cm;

+ Phía ngoài bên phải trục bánh trước bị xây xát mòn vẹt kim loại diện (1x1) cm.

- Xe mô tô 75L-2373:

+ Phía trên mang xe bên phải bị nứt diện (5x0.2)cm.

+ Mũi chắn bùn bánh trước bên phải bị nứt dài 10cm.

+ Vành xe bánh trước bị biến dạng, mép lún diện (20x5)cm.

Tại Bản kết luận giám định y pháp tử thi số: 164-17/TT ngày 10/8/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Nguyên nhân chết của ông Trần Xuân T do: “Chấn thương sọ não nặng không hồi phục”.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu FASHION, màu xanh, BKS 75FD-0763.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng đen vàng BKS 75L2-2373.

Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Phú Vang đã trả lại cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Viết K đã bồi thường cho gia đình bị hại 10.000.000đ. Gia đình bị hại không yêu cầu gì đồng thời có đơn bãi nại không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Viết K.

Tại bản cáo trạng số: 41/QĐ/KSĐT ngày 16/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Viết K về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết K phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Viết K từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Viết K cho UBND phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách

* Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu FASHION, màu xanh, BKS 75FD-0763 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng đen vàng BKS 75L2-2373. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho chủ sở hữu. Nay không có ai yêu cầu gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Viết K đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền chi phí điều trị và mai táng là 10.000.000đ. Nay không yêu cầu gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

X T THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Viết k đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng khác được thu thập tại hồ sơ vụ án; quá trình xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa đã làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo, do đó Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18giờ 40 phút, ngày 28/01//2017 Nguyễn Viết K điều khiển xe mô tô 75FD-0763 phía sau chở vợ là bà Phan Thị H lưu thông trên cầu chợ D theo hướng P đi P1. Khi đến gần ngã ba đường vòng xuyến cầu chợ D, K cho xe rẽ trái, nhưng không nhường đường và lấn sang bên trái của xe đi ngược chiều, nên để xe mô tô nhãn hiệu FASHION, biển kiểm soát 75FD-0763 do K điều khiển va chạm vào lốp trước xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại sirius biển kiểm soát 75L2-2373 do ông Trần Xuân T điều khiển đi theo hường ngược lại gây tai nạn. Hậu quả: Làm cho ông Trần Xuân T bị thương nặng cấp cứu tại Bệnh viện Trung ương H đến ngày 08/6/2017, thì tử vong.

Tại bản kết luận Giám định pháp y về tử thi số: 164-17/TT ngày 10/8/2017 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế đã kết luận: Nguyên nhân chết của ông Trần Xuân T “chấn thương sọ não nặng không hồi phục”.

Với hành vi nêu trên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố Nguyễn Viết K về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét về lỗi trong vụ án thấy rằng:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng làm chết một người, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo Nguyễn Viết K, bị cáo điều khiển xe mô tô 75D-0763 khi chuyển hướng rẽ trái không nhường đường cho xe đi ngược chiều và lấn sang phần đường bên trái, nên đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ và đã phạm vào khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần phải xử lý thích đáng để giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện hợp pháp của người bị hại đã có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phạm vào tình tiết tăng nặng; có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; là cán bộ hưu trí, hiện nay đã hơn 65 tuổi. Xét không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục, cũng đủ tác dụng giáo dục răn, đe và phòng ngừa như đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.

* Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu FASHION, màu xanh, BKS 75FD-0763 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng đen vàng BKS 75L2-2373. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Vang đã trả lại cho chủ sở hữu. Nay không có ai yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Viết K đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền chi phí điều trị và mai táng là 10.000.000đ. Nay đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về án phí: Bị cáo Nguyễn Viết K phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUY T Đ NH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết K phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Viết K 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Viết K cho UBND phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

* Về án phí: Căn cứ Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Viết K phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bản án này là sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ