- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Viết Tuệ - Bị truy tố tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Điều 194 Bộ luật - Xử phạt; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 43/2017/HSST Ngày 23 - 8 - 2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân
- Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Vũ Xuân Hƣớng – Phó Bí thƣ Đảng ủy xã Bình Minh, huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.
+ Ông Mai Xuân Trƣờng - Phó hiệu trƣởng trƣờng THCS xã Hòa Bình, huyện Kiến Xƣơng.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Huế - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở UBND xã Quang Lịch huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình xét xử vụ án hình sự thụ lý số 40/2017/HSST - ngày 19/7/2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 42/2017/HSST – QĐ ngày 09 tháng 8 năm 2017 đối với:
Bị cáo Lê Viết T, sinh ngày 30/3/1969 tại xã T huyện K, tỉnh Thái Bình.
Nơi cƣ trú: thôn 7B, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; số CMND: 151047776; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; con ông Lê Viết H sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị Th sinh năm 1949; gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ: Đặng Thị H sinh năm 1975 và có hai con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2004;
Tiền án, Tiền sự: không;
Bị tạm giữ từ ngày 25/4/2017 đến ngày 28/4/2017 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xƣơng. Bị cáo đƣợc trích xuất, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 25/4/2017, T đi xe ôm của một ngƣời không quen biết đến khu vực cây xăng thuộc thôn Kìm xã Vũ Lạc thành phố Thái Bình mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng của một ngƣời đàn ông khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua đƣợc Heroin, T cất ma túy vào trong túi quần đang mặc phía sau bên trái rồi bắt xe ôm về xã Vũ Thắng. Khi về đến khu vực ngã ba trạm bơm thôn 8 xã V huyện K tỉnh Thái Bình, T xuống xe, trả tiền xe ôm, đi bộ vào khu vực nghĩa trang thì bị Tổ công tác của Công an huyện Kiến Xƣơng phát hiện và yêu cầu kiểm tra. Trƣớc sự chứng kiến của 2 ngƣời, Tổ sông tác đã thu giữ tại túi quần đang mặc phía sau bên trái của T 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy ni lông màu vàng, bên trong gói bằng giấy tráng kim màu bạc, trong cùng chứa chất bột màu trắng đục dạng cục, T khai nhận đó là Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân nhƣng chƣa kịp sử dụng. Tổ công tác đã yêu cầu T và mời ngƣời làm chứng về trụ sở UBND xã Vũ Thắng để lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 140/KLGĐ - PC 54 ngày 26/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận:
- Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có trọng lƣợng là 0,3106gam.
Vật chứng của vụ án: 0,3106 gam Heroin thu của T, sau giám định còn 0,2210 gam chuyển Chi cục thi hành án dân sự quản lý theo quy định pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 42/KSĐT - ngày 18/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình đã truy tố Lê Viết T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Viết T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc Hội ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 10/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội:
Xử phạt bị cáo Lê Viết T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự 1999; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu của Lê Viết T 0,2210 gam heroine còn lại sau khi đã giám định trong phong bì niêm phong số 140/KLGĐ để tiêu hủy.
Tại phiên tòa bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo, sớm trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Lê Viết T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Viết T còn đƣợc chứng minh bằng các chứng cứ sau đây:
- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang do Công an huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình lập ngày 25/4/2017: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/4/2017 tại khu vực ngã ba trạm bơm thôn 8 - Vũ Thắng - Kiến Xƣơng - Thái Bình, Tổ công tác Công an huyện Kiến Xƣơng kiểm tra theo thủ tục hành chính đối với Lê Viết T đã phát hiện thu giữ tại túi quần đang mặc phía sau bên trái của T 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy ni lông màu vàng, bên trong gói bằng giấy tráng kim màu bạc, trong cùng chứa chất bột màu trắng đục dạng cục, T khai nhận đó là Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân nhƣng chƣa kịp sử dụng( Bút lục 01 - 04).
- Biên bản quản lý và niêm phong vật chứng do Công an huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình lập hồi 14 giờ 35 phút ngày 25/4/2017: “ Thu tại túi quần đang mặc phía sau bên trái của T 01( một) gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy ni lông màu vàng, bên trong gói bằng giấy tráng kim màu bạc, trong cùng chứa chất bột màu trắng đục dạng cục. T khai đó là Heroine mua về để sử dụng. Toàn bộ số ma túy trên đƣợc niêm phong trong một phong bì màu trắng viền xanh đỏ. Mặt trƣớc ghi: Vật chứng thu giữ của Lê Viết T, SN 1969 Vũ Trung - Kiến Xƣơng - Thái Bình…” (Bút lục 05).
- Biên bản ghi lời khai của những ngƣời chứng kiến là anh Đinh Văn S sinh năm 1965 và chị Phạm Thị Nh sinh năm 1972 đều trú quán: thôn 8, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình là những ngƣời chứng kiến việc Tổ công tác Công an huyện Kiến Xƣơng kiểm tra, thu giữ gói ma túy tại túi quần đang mặc phía sau bên trái của Lê Viết T, T khai đó là ma túy mua về sử dụng cho bản thân nhƣng chƣa kịp sử dụng thì bị bắt (Bút lục 29 - 36).
- Kết luận giám định số số 140/KLGĐ - PC 54 ngày 26/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có trọng lƣợng là 0,3106gam( Không phẩy ba nghìn một trăm linh sáu gam) - Bút lục 09.
Từ những căn cứ nêu trên có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/4/2017, tại khu vực ngã ba trạm bơm thôn 8 xã V huyện K tỉnh Thái Bình, Lê Viết T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Hêrôin (Heroine) có trọng lƣợng 0,3106 gam nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Lê Viết T đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
BLHS năm 1999: Điều 194. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt ma tuý quy định.
"1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ một năm đến năm năm".
BLHS năm 2015: Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy đinh:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Hê rô in, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Nhƣ vậy quy định của BLHS năm 2015 về hình phạt đối với tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã giảm so với BLHS năm 1999.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc Hội ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 10/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội thì các quy định có lợi đƣợc áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trƣớc khi điều luật có hiệu lực thi hành. Do vậy cần áp dụng quy định có lợi cho bị cáo theo các quy định nêu trên.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả của vụ án thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Viết T là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma túy, gây nguy hại lớn cho xã hội. Vì tệ nạn ma tuý đang là hiểm hoạ cho toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con ngƣời, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần xử phạt nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian, có nhƣ vậy mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xét đến trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Viết T là phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xét thấy, về nguồn gốc 0,3106 gam Hêrôin, Lê Viết T khai mua của một ngƣời đàn ông khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ với giá 200.000 đồng tại khu vực cây xăng xã Vũ Lạc thành phố Thái Bình, do không xác định đƣợc ngƣời bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng: 0,3106 gam Heroin thu giữ của bị cáo, sau khi giám định còn 0,2210 gam là chất ma túy Nhà nƣớc cấm lƣu hành, vì vậy cần tịch thu để tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 41 BLHS và điểm a khoản 2 điều 76 BLTTHS.
[ 10] Về án phí: Bị cáo Lê Viết T phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 10/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.
- Xử phạt bị cáo Lê Viết T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 25/4/2017.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
-Tịch thu của Lê Viết T 0,2210 gam Hêrôin còn lại sau khi đã giám định trong phong bì niêm phong số 140/KLGĐ để tiêu hủy (theo Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng lập ngày 21/7/2017)
4. Án phí: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Viết T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/8/2017.
| Nơi nhận: - VKSND KX; - Bị cáo; - THAKX; - CAKX - Lƣu hồ sơ. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG, TỈNH THÁI BÌNH Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Hội thẩm nhân dân: Xƣơng, tỉnh Thái Bình. Kiến Xƣơng. Căn cứ vào Điều 199 và 222 Bộ luật tố tụng hình sự. HĐXX sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: Lê Viết T bị VKSND huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, những ngƣời tham gia tố tụng khác tại phiên toà. HĐXX thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án nhƣ sau: 1. Về tội danh: - Tuyên bố bị cáo Lê Viết T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - Kết quả biểu quyết: 3/3. 2. Về điều luật áp dụng: hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 10/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. - Kết quả biểu quyết: 3/3. 3. Về mức hình phạt: từ ngày bị tạm giữ 25/4/2017. - Kết quả biểu quyết: 3/3. 4. Về các vấn đề khác: Viết T trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. hình sự 1999; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: trong phong bì niêm phong số 140/KLGĐ để tiêu hủy (theo Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng lập ngày 21/7/2017) 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Viết T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm . pháp luật. 4.5 - Kết quả biểu quyết: 3/3 HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Thanh Xuân CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc + Ông Vũ Xuân Hƣớng – Phó Bí thƣ Đảng ủy xã Bình Minh, huyện Kiến + Ông Mai Xuân Trƣờng - Phó hiệu trƣởng trƣờng THCS xã Hòa Bình, huyện Vào hồi 10 giờ 40 phút ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại phòng nghị án Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, trên cơ - Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật - Xử phạt bị cáo Lê Viết T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính 4.1 - Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo Lê 4.2 - Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật -Tịch thu của Lê Viết T 0,2210 gam hêrôin còn lại sau khi đã giám định 4.3 - Về án phí: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a khoản 4.4 - Về quyền kháng cáo: Bị cáo T có quyền kháng cáo theo quy định của Biên bản lập xong. Hội đồng xét xử đã thống nhất thông qua và ký tên dƣới đây. Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Thị Thanh Xuân |