- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mỹ D - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của của b cáo Nguyễn Mỹ D; giữ nguyên
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 429/2023/HSPT Ngày: 22/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tào
Các thẩm phán:
ông Trần Quốc Cường
ông Nguyễn Tấn Trường
- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: ông Nguyễn Nam Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số
369/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối v i b cáo Nguyễn Mỹ D về
tội “Giết người”. Do có kháng cáo của b cáo đối v i Bản án hình sự s thẩm số
53/2023/HSST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Theo Quyết
đ nh đưa vụ án ra xét xử số 3010/2023/QĐXXPT-HS ngày 30 tháng 8 năm
2023.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Mỹ D; sinh năm 1997 tại tỉnh Nghệ An; gi i tính: Nam; n i cư
trú: Thôn H, th trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc:
Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Làm nông. Con
ông Nguyễn Mỹ T và bà Đặng Th T1. B cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự:
Không.
Nhân Thân: Ngày 27/11/2017 b Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk
Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thư ng tích” theo bản án hình
sự s thẩm số 44/2017/HS-ST, ngày 01/02/2019 chấp hành xong hình phạt tù
(đã được xóa án tích).
B cáo b tạm giam từ ngày 03/02/2023. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mỹ D: Luật sư Huỳnh Thế P – Văn
phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ;
Đ a chỉ: Khu C, Tòa nhà Trung tâm văn hóa tỉnh Đ, B H, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có một số bị cáo, bị hại và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14 tháng 5 năm 2021, Nguyễn Đăng S
(sinh năm 2001, trú tại thôn H, th trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) điều khiển xe mô tô của Nguyễn Văn K (sinh năm 2002, trú tại thôn E, th trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) chở K cùng v i Nguyễn Tấn L (sinh năm 2001, trú tại thôn F, th trấn E, tỉnh Đắk Lắk) đi ra khu vực hồ E để ch i. Khi đi đến khu vực đường cong ở cuối đường bờ hồ E thì gặp nhóm Nguyễn Xuân L1 (sinh năm 1996, trú tại thôn D, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu SH chở theo Phạm Th Thùy T2 (sinh năm 2003, trú tại thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk); Nguyễn Đức T3 (sinh năm 1999, trú tại thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) đi xe mô tô chở Phạm Th Thu H (sinh năm 2002, trú tại thôn B, th trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk); Nguyễn Xuân T4 (sinh năm 1998, là em trai của L1) đi xe mô tô một mình, chạy vượt lên xe của nhóm S, K, L. Thấy vậy, S điều khiển xe mô tô chạy vượt lên trư c thì nhóm L1 lại tăng ga vượt lên trư c. Nhóm Lộc đến ngồi ch i tại khu vực tràn suối đá hồ E thuộc đ a phận thôn E, th trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì nhóm S, K, L cũng đi đến và ngồi ch i tại đây, cách nhóm L1 khoảng 10m. Một lúc sau, Trần Thiện T5 (sinh năm 2001, trú tại thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) đi xe mô tô một mình đến ch i cùng v i nhóm của S. Trư c đó, S có gọi điện thoại cho Nguyễn Mỹ D (sinh năm 1997, trú tại thôn H, th trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) nói cho D biết là có người đàn ông đang chở Phạm Th Thùy T2 đi dạo ở khu vực bờ hồ, vì S cho rằng T2 là bạn gái của D.
Trong lúc nhóm S, K, L, T5 đang ngồi ch i thì Hồ Sĩ D1 (sinh năm 2005,
trú tại tổ dân phố H, th trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Lê Trọng Đ (sinh năm 2004, trú tại thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) đến. Khi Đ đến thì thấy Phạm Th Thu H (là bạn gái cũ của Đ) đang ngồi ch i v i nhóm của L1, nên Đ đã quay đầu xe mô tô của D1 về hư ng nhóm của L1, rồi chiếu thẳng đèn chiếu sáng của xe mô tô vào đó. Sau đó, D1 lấy xe mô tô đi về hư ng th trấn E, còn Đ ở lại ch i v i nhóm của S. Lúc này, D gọi điện thoại cho S hỏi đang ở đâu, thì S trả lời đang ở ngoài tràn suối đá. Sau đó S nhắn tin lại cho D v i nội dung:“Thằng này ai nhìn cũng thích!”. Khi nhận được tin nhắn của S, thì Dư ng nhắn lại v i nội dung: “Đánh chết mẹ nó đi!”. Sĩ nhắn lại cho D v i nội dung: “Có anh mới đánh được!”. Khi biết nhóm S đang ở ngoài tràn thì D bảo Nguyễn Hải Đ1 (sinh năm 2002, trú tại thôn F, th trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) điều khiển xe mô tô chở D ra hư ng hồ Ea Súp H1.
Về phía L1 khi đang ngồi ch i thì có nghe phía nhóm của S gọi điện thoại
kêu người đến, nghĩ sắp có chuyện xảy ra nên L1 và nhóm bạn của L1 đã lên xe
mô tô đi về. L1 điều khiển xe mô tô chở T2, T3 điều khiển xe mô tô chở H, còn
T4 điều khiển xe mô tô đi một mình. Thấy nhóm L1 lên xe đi về thì nhóm S, K,
L, T5, Đ cũng lên xe đuổi theo, mục đích là để chặn L1 lại, đánh giằn mặt. S
điều khiển xe mô tô chở K và L; T5 điều khiển xe mô tô chở Đ đuổi theo nhóm
của L1. Nhóm của S đi được một đoạn thì gặp Đ1 đang điều khiển xe mô tô chở
D đi theo hư ng ngược lại. Thấy nhóm S đang đuổi theo nhóm của L1 thì Đ1
quay đầu xe mô tô chở D cùng đuổi theo. Về phía T5, thì do mắt của T5 b cận,
chạy xe mô tô chậm nên khi đi được một đoạn thì đổi cho Đ chở T5. Hai nhóm
đuổi nhau trên đường B hư ng về trung tâm th trấn E. Lúc này, trên bờ kè hồ
Ea Súp H1 có nhiều người ngồi ch i, trong đó có Phạm Xuân Đ2 (sinh năm
2004, trú tại thôn A, th trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk); Hoàng Văn B (sinh năm
2003, trú tại thôn F, th trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk). Thấy nhóm người đi xe
mô tô đuổi nhau, Đ2 và B mỗi người điều khiển một xe mô tô đuổi theo hai
nhóm trên.
B truy đuổi, thì L1 điều khiển xe chở T2 chạy về thôn H, th trấn E,
huyện E, còn T3 điều khiển xe chở H và T4 điều khiển xe một mình chạy theo
hư ng từ đường L ra ngã tư Bưu điện huyện E. Thấy vậy, Đ1 điều khiển xe chở
D đuổi theo L1. Khi chạy trên đường N về hư ng thôn H, th trấn E được một
đoạn thì L1 quay xe mô tô chạy về hư ng đường N ra đường H, còn Đ1 chở D
chạy thẳng xuống thôn H, th trấn E. Khi xe mô tô của Đ1 chở D t i đoạn đường
thôn H thì b ngã, không đi tiếp được. Đường và D đẩy xe mô tô đi bộ thì lúc
này Hoàng Văn B chạy xe mô tô đến. Nên D ngồi lên xe mô tô của B để B chở
đi. B chở D chạy ra đường T gần B xe khách huyện E thì D phát hiện áo của
mình b r i, nên đã nói B quay lại tìm. Lúc này, Trư ng Văn H2 (sinh năm
2004, trú tại thôn F, th trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) đi xe mô tô một mình về
hư ng xã C để đổ xăng, thì thấy D đang đứng bên đường nên hỏi thăm thì được
D nhờ chở xuống xã C, nhưng không nói đi đâu. Trư c đó, Nguyễn Đăng S điều
khiển xe chở K và L, còn Đ2 điều khiển xe chở T5 đuổi theo nhóm L1 nhưng
không đuổi k p nên S, K, L đi theo đường T về hư ng về xã C. Khi đến khu vực
Nghĩa trang liệt sĩ huyện E thì thấy Hồ Sĩ D1 đang ngồi ch i tại quán S1 bên
đường, nên S đã nói v i D1 là chở K đi xuống xã C, nhưng không nói mục đích
đi, thì D1 đồng ý. S điều khiển xe chở L, D1 điều khiển xe chở K cùng đi về
hư ng xã C. Còn lúc này, Đ2 điều khiển xe chở T5 đến ngã tư Bưu điện huyện
E thì thấy T3 điều khiển xe chở H, còn T4 điều khiển xe đi một mình theo
hư ng từ đường L đến đường H, th trấn E để đi về hư ng xã C, nên Đ2 điều
khiển xe chở T5 đuổi theo. Khi đến khu vực Hồ Trung chuyển thì Đ2 ép sát và
dùng chân đạp xe mô tô của T3 một cái nhưng không trúng. T3 điều khiển xe
chở H chạy theo đường Tỉnh lộ 1 để về nhà, còn T4 điều khiển xe mô tô chạy rẽ
theo đường kênh chính T6 đi về.
Về phía L1, khi b truy đuổi đã chở T2 chạy về nhà T3 tại thôn B, xã C,
huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, T3 chở H về t i nhà, lúc này Đ2 chở T5 đang
đuổi theo phía sau. Khi về đến trư c nhà mình, thì T3 bỏ xe mô tô ngoài đường rồi chạy ra phía sau nhà, Đ2 cầm mũ bảo hiểm ném một cái trúng vào lưng của T3. T3 chạy ra sau nhà thì Đ2 tiếp tục đuổi theo để đánh. Cùng lúc, D được H2 chở đến n i, thấy Đ2 đuổi theo T3 thì D cũng đuổi theo ra phía sau nhà nhưng không k p. Tại khu vực phía sau nhà T3, D thấy một cái xẻng bằng kim loại, đang cắm trên nền đất nên đã rút lên cầm theo đi ra phía trư c nhà. Lúc này, L1 từ trong nhà T3 đi ra đường bê tông phía trư c nhà. Thấy vậy Đ2 lao vào đánh nhau bằng tay không v i L1, khi thấy Dư ng cầm cái xẻng đi đến thì Đ2 nói v i D “Nó đây này!” (ý Đ2 nói L1 đang ở đây này). Thì Dư ng cầm xẻng bằng hai tay, đánh một cái theo hư ng từ trên xuống dư i, từ phải qua trái trúng vào vùng đỉnh đầu phía bên trái của L1. B đánh L1 lùi vài bư c rồi ngã xuống đường bê tông trong tư thế nằm ngữa. Thấy vậy, Đ2 đi đến giật lấy cái xẻng trên tay của D rồi đập mạnh hai cái theo hư ng từ trên xuống dư i trúng vào vùng mặt của L1. Sau khi đánh L1 thì cả nhóm bỏ đi, còn L1 được mọi người đưa đi cấp cứu.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ án được xác đ nh
xảy ra tại thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Hiện trường đã b xáo trộn một phần, do nhiều người qua lại và đưa người b hại đi cấp cứu. Quá trình khám nghiệm hiện trường, C quan điều tra đã tạm giữ 01 cái xẻng, lưỡi bằng kim loại, cán bằng tre, có tổng chiều dài 1,89m.
* Tại Bản kết luận giám đ nh pháp y về thư ng tích số 609/TgT-TTPY
ngày 20 tháng 5 năm 2021 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Đ đối v i Nguyễn Xuân L1 đã kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên hiện tại là: 13% (Mười ba phần trăm). Vật tác động: Vật tày, cứng và vật tày có cạnh, vật sắc.
* Tại Bản kết luận giám đ nh pháp y về thư ng tích (bổ sung) số
1067/TgT-TTPY ngày 30 tháng 10 năm 2021 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Đ đối v i Nguyễn Xuân L1 đã kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thư ng c thể do thư ng tích sau khi tổng hợp (cộng) các tỷ lệ phần trăm tổn thư ng c thể do từng thư ng tích theo Phư ng pháp xác đ nh tỷ lệ tổn thư ng c thể quy đ nh tại Điều 4 Thông tư số 22/2019/TT-BYT (Quy đ nh tỷ lệ phần trăm tổn thư ng c thể trong giám đ nh Pháp y…ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y) hiện tại là: 14% (Mười bốn phần trăm).
* Về việc tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, C quan điều tra đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm:
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 47P1-269.48 của b cáo Nguyễn Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của b cáo Nguyễn Đăng S.
Đối v i 01 cái xẻng, lưỡi bằng kim loại, cán bằng tre, có tổng chiều dài
1,89m, mà các b cáo đã sử dụng để phạm tội, do không còn giá tr sử dụng và chủ sở hữu hợp pháp không yêu cầu nhận lại.
Đối v i 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X mà b cáo
Nguyễn Mỹ D đã sử dụng trong quá trình phạm tội, sau đó đã vứt bỏ, C quan điều tra đã tiến hành truy tìm, nhưng không thu giữ được.
Đối v i 01 xe mô tô biển kiểm soát 47P1-004.19 mà b cáo Trần Thiện T5
đã sử dụng làm phư ng tiện phạm tội. Quá trình điều tra xác đ nh thuộc sở hữu
hợp pháp của ông Trần Văn T7 (sinh năm 1971, trú tại thôn B, xã E, huyện E,
tỉnh Đắk Lắk, là bố ruột của b cáo T5). Vào ngày 14 tháng 5 năm 2021 b cáo
T5 sử dụng xe mô tô trên ông T7 không biết.
Tại ản n h nh sự s thẩ số
H T ngày
c a T a
n nh n d n t nh Đ k k đã quy t định:
[1]. Tuyên bố: B cáo Nguyễn Mỹ D phạm tội “Giết người”.
[2]. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 15; khoản 1, 2 Điều 54; khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: B cáo Nguyễn Mỹ D 10 (M) năm tù về tội “Giết người”. Thời
gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày b cáo b bắt tạm giam ngày
03/02/2023.
Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần xử lý vật chứng, án phí
và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 04/7/2023, b cáo Nguyễn Mỹ D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề
ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của b cáo; giữ nguyên bản án
s thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án đã được thẩm tra
tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận; Hội đồng xét xử thấy đủ c sở kết
luận: Vào khoảng 21 giờ 55 phút ngày 14 tháng 5 năm 2021, các b cáo Nguyễn
Mỹ D, Nguyễn Lê Trọng Đ, Nguyễn Văn K, Trần Thiện T5, Nguyễn Tấn L,
Nguyễn Đăng S đã có hành vi đuổi đánh Nguyễn Xuân L1 từ th trấn E đến thôn
B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó Nguyễn Mỹ D, Nguyễn Lê Trọng Đ đã
dùng 01 cái xẻng, lưỡi bằng kim loại, cán bằng tre, có tổng chiều dài 1,89m
đánh vào vùng đầu và vùng mặt của Nguyễn Xuân L1, gây thư ng vết thư ng
để lại sẹo đỉnh sau, hình cung mở xuống dư i, sang phải, vết thư ng để lại sẹo
nằm ngang vùng cằm, gãy ngang ½ thân răng R 21, mẻ răng R 43, gãy xư ng
chính mũi; v i tổng tỷ lệ thư ng tích 14%. Do đó, án s thẩm tuyên bố các b
cáo Nguyễn Mỹ D, Nguyễn Lê Trọng Đ, Nguyễn Văn K, Trần Thiện T5,
Nguyễn Đăng S, Nguyễn Tấn L phạm tội “Giết người” theo quy đ nh tại điểm n
khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo; nhận thấy: Án s
thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu
quả chết người chưa xảy ra; vai trò và nhân thân của từng b cáo trong vụ án;
trong đó b cáo D là người khởi xư ng cũng là người thực hành tích cực, b cáo
D và b cáo Đ là người trực tiếp cầm hung khí đánh gây thư ng tích cho b hại; b cáo D có nhân thân xấu. Đồng thời cũng đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của b cáo, như: Sau khi phạm tội b cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người b hại để xử phạt b cáo D 10 năm tù là phù hợp, không nặng. Tuy trong giai đoạn phúc thẩm gia đình b cáo cung cấp tài liệu đã nộp đủ án phí hình sự s thẩm và ông bà nội b cáo là người có công v i đất nư c, nhưng xét thấy các tình tiết này cũng không đủ c sở để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.
. Các phần khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh
đã có hiệu lực pháp luật.
. Do kháng cáo không được chấp nhận nên b cáo phải ch u án hình sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của của b cáo Nguyễn Mỹ D; giữ nguyên
bản án s thẩm.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 15; khoản 1, 2 Điều 54; khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự; Xử phạt b cáo Nguyễn Mỹ D 10 (M) năm tù về tội “Giết người”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày b cáo b bắt tạm giam ngày 03/02/2023.
2. Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng
ngh đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo Bản án hình sự s thẩm số 53/2023/HS-ST ngày 29/6/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
3. Án phí phúc thẩm: B cáo Nguyễn Mỹ D phải ch u 200.000 đồng án
hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - C quan CSĐT-Công an tỉnh Đắk Lắk; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Đắk Lắk; - C quan CSTHAHS-CA tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk; - B cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Tào |