vanban.org

Bản án 428/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 23/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về án phí: Căn cứ điều 136 BLTTHS; điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Buộc các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí HSST. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự số 428 ngày 23/12/2021 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 428/2021/HS-ST
Ngày: 23/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Kim Hoa – Bà Dương Thị Thúy Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai An – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 404/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 614/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị L - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 10 tháng 4 năm 1955 tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Nơi đăng ký thường trú: Tổ 13, đường Tây Nam, phường Vĩnh Hải, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 04/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Nguyễn Văn Chương (Đã chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Xuân (Đã chết); Chồng: Lại Trọng Nghĩa (Đã ly hôn). Con: có hai con, con lớn sinh năm 1974, con nhỏ sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/4/1978, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. - Ngày 25/3/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản”. - Ngày 27/11/2015, bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong Bản án vào ngày 01/8/2016.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2021 đến ngày 22/01/2021 được trả tự do. Đến ngày 07/10/2021 bị bắt theo Quyết định truy nã số 06 ngày 22/5/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vinh đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị M - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 20 tháng 10 năm 1948 tại xã Cẩm Kim, thành phố Hội An, tỉnh Quang Nam; Nơi đăng ký thường trú: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Nguyễn Kiên (Đã chết) Họ tên mẹ: Đoàn Thị Ngô (Đã chết); Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ tạm giữ từ ngày 17/01/ 2021 đến ngày 22/01/2021 được trả tự do. Đến ngày 07/10/2021 bị bắt theo Quyết định truy nã số 05 ngày 22/5/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vinh đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Lê Thị Thanh Huyền – sinh năm 1983 – vắng mặt

Địa chỉ: Khối 8, phường Trường Thi, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An;

- Chị Nguyễn Thị Thủy – sinh năm 1976 – vắng mặt

Địa chỉ: Khối Đông Thọ, phường Hưng Dũng, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen biết nên Nguyễn Thị L, Nguyễn Dạ Thảo Chi và Nguyễn Thị M thống nhất rủ nhau đi đến địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản rồi chia nhau tiêu xài. Trong khoảng thời gian từ ngày 13/01/2021 đến ngày 15/01/2021, tại thành phố Vinh, Nghệ An, Nguyễn Thị L, Nguyễn Dạ Thảo Chi và Nguyễn Thị M đã thực hiện được các hành vi trộm cắp tài sản như sau: Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ ngày 14/01/2021, Nguyễn Thị M thuê xe taxi đến khu vực chợ Đại học Vinh thuộc phường Bến Thủy, thành phố Vinh, Nghệ An đề trộm cắp tài sản. Tại đây M trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng của chị Lê Thị Thanh Huyền, sinh năm 1983, trú tại khối 8, phường Trường Thi, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An rồi đi ra ngoài chợ. Khi đi ra bên ngoài, Nguyễn Thị M thấy Nguyễn Dạ Thảo Chi đang đứng đợi nên cả hai cùng đi lại khu vực cổng trường Đại học Vinh để đưa chiếc điện thoại di động vừa lấy trộm được cho Nguyễn Thị L rồi L đưa lại chiếc điện thoại cho Chi. Sau đó, Chi mang chiếc điện thoại về cất giấu trong túi xách tại phòng 302 khách sạn Bảo Long; Vụ thứ 2: Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 15/01/2021, Nguyễn Dạ Thảo Chi chở Nguyễn Thị L đến khu vực chợ Quán Lau thuộc phường Trường Thi, thành phố Vinh, Nghệ An để trộm cắp tải sản. Tại đây, Chi chờ ở bên ngoài, L trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, màu vàng của chị Nguyễn Thị Thủy, sinh năm 1976, trú tại khối Đông Thọ, phường Hưng Dũng, thành phố Vinh, Nghệ An bỏ vào túi áo khoác rồi đi đến nơi Chi đang đợi. Sau đó, Nguyễn Dạ Thảo Chi và Nguyễn Thị L đi về phỏng 302, khách sạn Bảo Long rồi L đưa chiếc điện thoại vừa trộm được cho Chi cất giấu. L, M, Chi thống nhất trộm được tài sản sẽ về đưa cho Chi cất dấu rồi sau đó bán chia đều cho cả ba người.

Đến ngày 17/01/2021, Nguyễn Thị L, Nguyễn Dạ Thảo Chi và Nguyễn Thị M đã đến Công an phường Trường Thi, thành phố Vinh đầu thú và giao nộp các tài sản trộm cắp được. Ngoài ra, Nguyễn Dạ Thảo Chi, Nguyễn Thị L còn khai nhận: khoảng 08 giờ ngày 13/01/2021 Chi chở L đến khu vực chợ đầu mối phường Hồng Sơn, thành phố Vinh để trộm cắp tài sản. Tại đây, L đã lén lút chiếm đoạt 01 diện thoại nhãn hiệu OPPO F11 Pro màu xanh đen của 01 người phụ nữ (hiện chưa xác định nhận thân, lại lịch) để đưa cho Chi sử dụng. Ngày 17/01/2021, Chi đã giao nộp cho Cơ quan công an chiếc điện thoại này.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 04 ngày 22/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Vinh kết luận: - 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX màu vàng hồng, đã qua sử dụng của chị Lê Thị Thanh Huyền, tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá 7.000.000 đồng; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S Plus màu vàng của chị Nguyễn Thị Thủy trị giá 2.000.000đ; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO F11 Pro màu xanh đen, đã qua sử dụng lại thời điểm tháng 01/2021 có giá trị là 1.000.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra các bị can đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 435/VKS - HS ngày 24/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173, điểm b, s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù; áp dụng khoản 1 điều 173, điểm b, o, s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Về dân sự: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả lại cho người bị hại, hiện người bị hại không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Các bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1].Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại và các chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có cơ sở để kết luận: Vào khoảng thời gian từ ngày 13/01/2021 đến ngày 15/01/2021, tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị L, Nguyễn Dạ Thảo Chi và Nguyễn Thị M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX màu vàng hồng trị giá 7.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S Plus màu vàng của trị giá 2.000.000 đồng. Tổng trị giá trị tài sản mà L, M, Chi chiếm đoạt là 9.000.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất vụ án: Tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo L là người có nhân thân xấu. Vì vậy cần xử phạt nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[2.3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên như vậy thuộc tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự; Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo M còn được hưởng tình tiết người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội nên cần xử các bị cáo mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2.4] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc ổn định nên miễn hình bổ sung cho các bị cáo.

[3] Về dân sự: Quá trình điều tra người bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản không có yêu cầu gì về dân sự nên miễn xét.

Hành vi phạm tội của Nguyễn Dạ Thảo Chi đã được xét xử tại bản án số 206/2021/HSST ngày 29/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

[4] Về vật chứng: Vật chứng được giải quyết tại bản án số 206/2021/HSST ngày 29/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An vì vậy miễn xét.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/10/2021 nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2021 đến ngày 22/01/2021.

Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, o, s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/10/2021 nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2021 đến ngày 22/01/2021.

Về án phí: Căn cứ điều 136 BLTTHS; điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Buộc các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ