- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 428/2017/DS-ST Ngày: 22/9/2017 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Đoàn, Thư ký Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 223/2017/TLST-DS ngày 04/5/2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 474/2017/QĐXXST-DS ngày 21/8/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 337/2017/QĐST-DS ngày 06/9/2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V
Địa chỉ: A, phường B, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn theo ủy quyền: Bà Hứa Thị T, sinh năm 1986 – địa chỉ: A đường B, khu phố C, phường T, quận T; văn bản ủy quyền số 685/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 18/4/2017 (Có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Bùi Minh S, sinh năm 1966.
Địa chỉ: A đường B, khu phố C, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/04/2017, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V có đại diện theo ủy quyền bà Hứa Thị T trình bày:
Vào ngày 05/02/2015 ông Bùi Minh S và Ngân hàng thương mại cổ phần V ký với nhau hợp đồng tín dụng số 20150203-100034-0014, theo hợp đồng đã ký kết thì Ngân hàng cho ông S vay số tiền là 35.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 2.92%/tháng, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận thì ông S có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền 49.148.000 đồng trả dần trong thời hạn 24 tháng, mỗi tháng trả dần số tiền 2.049.000 đồng, tháng cuối cùng trả số tiền còn lại là 2.021.000 đồng, thanh toán vào ngày 10 hàng tháng bắt đầu thực hiện kể từ ngày 10/3/2015.
Thực hiện hợp đồng ông S đã nhận đủ số tiền vay từ Ngân hàng và thực hiện việc thanh toán cho Ngân hàng được 02 lần với tổng số tiền là 4.098.000 đồng và ngưng không thực hiện kể từ ngày 10/4/2015 cho đến nay, Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở, nhưng ông S vẫn không thực hiện; vì vậy Ngân hàng làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:
Buộc ông Bùi Minh S phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ còn thiếu chưa thanh toán là 45.050.000 đồng.
Bị đơn ông Bùi Minh S: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức đã tiến hành triệu tập ông S đến tòa để giải quyết việc kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V nhưng ông S không đến; Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông S theo quy định của pháp luật, nhưng ông S vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do, nên mở phiên tòa xét xử vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V.
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm có: Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 414941 ngày 05/02/2015, phê duyệt của VPBANH ngày 10/02/2015; chứng minh Nhân dân, hộ khẩu của ông S; giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh; giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần; điều lệ Ngân hàng thương mại cổ phần V; công văn số 5848/NHNN-TTGSNH ngày 04/8/2015; văn bản ủy quyền số 18/2017/UQ-CT ngày 13/3/2017; văn bản ủy quyền số 685/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 18/4/2017; chứng minh Nhân dân của bà T.
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh; các nội dung đương sự đã thỏa thuận thống nhất được và không thống nhất được do ông S vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án, cũng như làm rỏ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào kết quả xác minh ngày 30/6/2017 thể hiện, bị đơn ông Bùi Minh S cư trú tại địa chỉ số A đường B, khu phố C, phường T, quận T, TP. Hồ Chí Minh; nên thẩm quyền giải quyết vụ án này theo trình tự thủ tục sơ thẩm là Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh; được pháp luật quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
2. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 18/04/2017 và tài liệu, chứng cứ kèm theo của Ngân hàng thương mại cổ phần V, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về hợp đồng dân sự về hợp đồng vay tài sản được pháp luật quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005.
3. Về thủ tục tố tụng:
3.1. Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V ủy quyền cho bà Hứa Thị T tham gia tố tụng và được Tòa án chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; tại phiên tòa bà T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
3.2. Bị đơn ông Bùi Minh S, sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án số 223/TB-TLVA ngày 04/5/2017 cho ông S nhưng hết thời hạn được quy định tại Điều 174 và Điều 175 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ông S không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tòa án tiếp tục triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông S vào các ngày 03/8/2017 và 21/8/2017, nhưng ông S vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do chính đáng; Tòa án tiến hành lập biên bản về phiên họp kiểm trả việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ mà không hòa giải và thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng chứng cứ cho ông S biết theo quy định tại Khoản 1 Điều 207, Khoản 2 Điều 208 và Khoản 3 Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đồng thời triệu ông S tham gia phiên tòa vào lúc 8 giờ 00 phút, ngày 30/8/2017 nhưng ông S vẫn không đến tòa tham gia xét xử vụ án. Hội đồng xét xử sau khi thảo luận quyết định hoãn phiên tòa và mở lại phiên tòa vào ngày hôm nay (22/9/2017), nhưng ông S vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do chính đáng (ông S không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt); nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông S là phù hợp, được pháp luật quy định tại Điều 227, Điều 233 và Điều 335 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
4. Về yêu cầu của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20150203-100034-0014 ngày 05/02/2015 và phê duyệt của VPBANK ngày 10/02/2015 có nội dung: Ngân hàng thương mại cổ phần V cho ông S vay số tiền 35.000.000 đồng, mục đích vay là để tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay là 24 tháng, lãi suất cho vay 2.92%/tháng, với tổng số tiền ông S phải trả cho Ngân hàng là 49.148.000 đồng, khoản khách hàng trả hàng tháng là 2.049.000 đồng; thanh toán vào ngày 10 hàng tháng, bắt đầu thực hiện 10/02/2015; như vậy việc đôi bên ký hợp đồng vay nợ là có thực và thỏa thuận các nội dung có trong hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Sau khi vay, ông S đã thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng được 02 kỳ vào ngày 10/3/2015 và ngày 10/4/2015 với tổng số tiền là 4.098.000 đồng và ngưng không thực hiện từ kỳ thứ 03 vào ngày 10/5/2015 cho đến nay. Do đó lỗi vi phạp hợp đồng vay thuộc về ông S, kéo dài thời gian trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Căn cứ vào các Điều 471và Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 thì việc đòi nợ của Ngân hàng là có căn cứ.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên. Hội đồng xét xử, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: 2.252.500 đồng ông Bùi Minh S phải chịu; Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Áp dụng Điều 305, Điều 471 và Điều 476 của Bộ Luật Dân sự năm 2005.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.
Buộc ông Bùi Minh S phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền là 45.050.000 (Bốn mươi lăm triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án, có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 2.252.500 (Hai triệu hai trăm năm mươi hai nghìn năm trăm) đồng ông Bùi Minh S phải chịu; hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 1.126.250 (Một triệu một trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0015320 ngày 04/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
3.1. Quyền kháng cáo, Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Bùi Minh S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
3.2. Quyền kháng nghị, Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
4. Quyền yêu cầu Thi hành án: “Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - Tòa án Nhân dân TP. HCM; (1) - Viện kiểm sát Nhân dân TP. HCM; (1) - Viện kiểm sát Nhân dân Q.Thủ Đức; (1) - CC Thi hành án dân sự Q. Thủ Đức; (1) - Nguyên đơn; (1) - Bị đơn; (1) - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. (2) | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Công Tình |