- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 427/2019/HNGĐ-ST Ngày: 31/7/2019 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Thu Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Nguyệt
2. Bà Nguyễn Thị Bích Vân
Thư ký phiên Tòa: Bà Huỳnh Thị Thu H , Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2019/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 3 năm 2019 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 44/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2019/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thu H , Sinh năm: 1976; địa chỉ: 90/16B đường H, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt);
2. Bị đơn: Ông Trú Phương H, Sinh năm: 1965; địa chỉ: 90/9E đường T, Phường B, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2019 , bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Huỳnh Thị Thu H trình bày:
Bà H và ông Trú Phương H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 94, đăng kí ngày 07/10/2002 tại Ủy ban nhân dân Phường 13, Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong thời gian chung sống, hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn: Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng trong những năm gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn về tình cảm cũng như kinh tế. Mẫu thuẫn nảy sinh từ khoảng năm 2016 do ông H không lo làm ăn lại còn hay vô cớ chửi mắng bà H, nay cuộc sống chung không còn hạnh phúc nên bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Trú Phương H . Về con chung: Có 01 con chung là trẻ Trú Xuân N (nam, sinh ngày 19/2/2004). Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Trú Xuân Nam, bà H không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Ý kiến bị đơn: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ về nơi cư trú của bị đơn, theo kết quả xác minh Công an Phường 3, Quận 11 cho biết ông Trú Phương H đang cư ngụ tại số 90/9E đường T, Phường B, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án đã tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng, triệu tập bị đơn đến Tòa án để giải quyết vụ kiện nhưng bị đơn – ông Trú Phương H đã không đến Tòa án để giải quyết vụ án cũng như không có văn bản phản hồi; do đó, không thể lấy lời khai cũng như tiến hành H giải với bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về nội dung giải quyết vụ án như sau: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ, quyền và lợi ích hợp pháp được đảm bảo.
Về nội dung: qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa thể hiện yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với ông Trú Phương H, trẻ Trú Xuân N (nam, sinh ngày 19/2/2004) giao cho bà Huỳnh Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có nhận định: [1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Huỳnh Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trú Phương H , đây là loại tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, ông H hiện đang cư trú trên địa bàn Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; do đó, theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập tham gia H giải, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và H giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập tham dự phiên tòa đều đã được tống đạt, niêm yết công khai đúng theo quy định. Tuy nhiên, trong làn H giải thứ hai, cũng như cả hai lần Tòa án mở phiên tòa, bị đơn - ông Trú Phương H đều vắng mặt mà không rõ lý do. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt ngày 24/6/2019. Do vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về các yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 94, đăng kí ngày 07/10/2002 tại Ủy ban nhân dân Phường 13 Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh, thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Thu H và ông Trú Phương H là hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn thì giữa bà H và ông H đã phát sinh mâu thuẫn, do ông H không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn luôn vô cớ mắng chửi bà H. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, trong đó có văn bản thể hiện rõ các yêu cầu khởi kiện của bà H , nhưng ông H không hề có ý kiến phản hồi và việc không đến Tòa án tham gia vào việc giải quyết vụ án cũng thể hiện rằng ông H không có thiện chí đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình. Từ những nguyên nhân trên cho thấy, quan điểm sống của vợ chồng không phù hợp. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông H là trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Thu H được ly hôn ông Trú Phương H.
Về con chung: Xét thấy yêu cầu của bà Huỳnh Thị Thu H về việc tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Trú Xuân N (nam, sinh ngày 19/2/2004). Hội đồng xét xử xét thấy cháu Nam hiện đang sống với mẹ, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của trẻ; Căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân Gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Thu H giao con chung cho bà H nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, bà Huỳnh Thị Thu H tự nguyện không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, xét sự tự nguyện của đương sự không trái với quy định của pháp luật nên ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: bà Huỳnh Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 đồng theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Căn cứ Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Thu H; 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với ông Trú Phương H (Giấy chứng nhận kết hôn số 94, đăng kí ngày 07/10/2002 tại Ủy ban nhân dân Phường 13 Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị). 2. Về con chung: Bà Huỳnh Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trú Xuân N (nam, sinh ngày 19/2/2004). Ghi nhận sự tự nguyện của bà Huỳnh Thị Thu H không yêu cầu ông Trú Phương H cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn Trú Phương H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung: Các bên khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Huỳnh Thị Thu H và ông Trú Phương H được quyền khởi kiện giải quyết về tài sản khi có yêu cầu. 4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 5. Án phí: Bà Huỳnh Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2016/0009850 ngày 07/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật. 7. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. 8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TANDTP. HCM; - VKSND Quận 11; - Chi cục THADS Quận 11; - Các đương sự; - UBND Phường 13, Quận 11; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Lại Thị Thu Thủy |