vanban.org

Bản án 427/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H

Buộc ông Vũ Thanh D phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 10.070.000 (Mười triệu không trăm bảy mươi nghìn) đồng. Kể từ ngày bản án, có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 427/2017/DS-ST
Ngày: 22/9/2017
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình

Các Hội thẩm Nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tiến Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Ánh Minh

Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Đoàn, Thư ký Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 275/2017/TLST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 354//2017/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 259/2017/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H.

Địa chỉ: A đường B, phường C, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc L, sinh năm 1986.

Địa chỉ: A đường B, phường C, quận T, TP. Hồ Chí Minh; giấy ủy quyền số 341747291/2017/GUQ-HC ngày 18/4/2017 (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Vũ Thanh D, sinh năm 1966.

Địa chỉ: A đường B, khu phố C, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/4/2017, trong quá trình giải quyết vụ án và tại tòa nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H có đại diện theo ủy quyền ông Phạm Ngọc L trình bày:

Vào ngày 03/3/2014, giữa nguyên đơn và bị đơn ký kết với nhau hợp đồng tín dụng trả góp số 341774291 với nội dung, nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền là 15.191.000 đồng, thời hạn vay là 9 tháng, mục đích cho vay tiêu dung, lãi suất cho vay 6,09%/tháng; theo thỏa thuận bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 20.295.000 đồng, số tiền trả góp hàng tháng là 2.255.000 đồng vào ngày 10 hàng tháng.

Thực hiện hợp đồng vay bị đơn đã nhận được khoản tiền vay và thực hiện việc trả nợ cho nguyên đơn được 5 lần với tổng số tiền là 11.275.000 đồng và ngưng không thực hiện kể từ ngày 15/8/2014 cho đến nay; vì vậy nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:

Buộc ông Vũ Thanh D phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 10.070.000 đồng (trong đó, số tiền còn lại của hợp đồng là 9.020.000 đồng và số tiền phạt do chậm thực hiện nghĩa vụ là 1.050. 000 đồng).

Bị đơn ông Vũ Thanh D: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức đã tiến hành triệu tập ông D đến tòa để giải quyết việc kiện của nguyên đơn nhưng ông D không đến; Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông D theo quy định của pháp luật, nhưng ông D vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do, nên mở phiên tòa xét xử vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm có: Hợp đồng tín dụng trả góp số 3417474291 ngày 10/3/2014; chứng minh Nhân dân, hộ khẩu của ông D; giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; điều lệ của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H; dịch vụ chuyển phát nhanh EMS; giấy ủy quyền số 341747291/2017/GUQ-HC ngày 18/4/2017; thẻ căn cước của ông Phạm Ngọc L.

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Hợp đồng tín dụng trả góp số 341774291 ngày 03/3/2014 được ký giữa nguyên đơn và bị đơn là có thật.

Các nội dung đương sự đã thỏa thuận thống nhất được và không thống nhất được do ông D vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Vũ Thanh D cư trú tại địa chỉ số A đường B, khu phố C, phường L, quận T, TP. Hồ Chí Minh; nên thẩm quyền giải quyết vụ án này theo trình tự thủ tục sơ thẩm là Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; được pháp luật quy định tại được pháp luật quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 18/4/2017 và tài liệu, chứng cứ kèm theo của nguyên đơn, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về hợp đồng dân sự về hợp đồngvay tài sản được pháp luật quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005.

3. Về thủ tục tố tụng:

3.1. Nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H ủy quyền cho ông Phạm Ngọc L tham gia tố tụng và được Tòa án chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

3.2. Bị đơn ông Vũ Thanh D, sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án số 275/TB-TLVA ngày 30/5/2017 cho ông D nhưng hết thời hạn được quy định tại Điều 174 và Điều 175 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ông D không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tòa án tiếp tục triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông D vào các ngày 06/7/2017 và 28/7/2017, nhưng ông D vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do chính đáng; Tòa án tiến hành lập biên bản về phiên họp kiểm trả việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ mà không hòa giải và thông bào về kết quả phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng chứng cứ cho ông D biết theo quy định tại Khoản 1 Điều 207, Khoản 2 Điều 208 và Khoản 3 Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đồng thời triệu tập ông D tham gia phiên tòa vào lúc 8 giờ 00 phút, ngày 23/8/2017 nhưng ông D vẫn không đến tòa tham gia xét xử vụ án. Hội đồng xét xử sau khi thảo luận quyết định hoãn phiên tòa và mở lại phiên tòa vào ngày hôm nay (22/9/2017), nhưng ông D vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do chính đáng (ông D không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt); nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D là phù hợp, được pháp luật quy định tại Điều 227, Điều 233 và Điều 335 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

4. Về yêu cầu của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng trả góp số 341774291 ngày 10/3/2014 có nội dung: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H cho ông D vay số tiền 15.191.000 đồng, thời hạn cho vay 9 tháng kể từ ngày giải ngân, ngày trả góp đầu tiên 10/4/2014, ngày trả góp hàng tháng 10, số tiền trả góp hàng tháng 2.255.000 đồng, mục đích vay là để tiêu dùng cá nhân, lãi suất cho vay 6,09%/tháng; như vậy việc vay nợ giữa nguyên đơn và bị đơn là có thật; sau khi vay ông D đã nhận đủ tiền và thanh toán cho Ngân hàng được 05 lần với tổng số tiền là 11.275 đồng, còn lại 9.020.000 đồng ông D ngưng không thực hiện cho đến nay. Do đó lỗi vi phạp hợp đồng vay thuộc về ông D, kéo dài thời gian trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Căn cứ vào các Điều 471 và Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 thì việc đòi nợ của nguyên đơn là có căn cứ.

Về số tiền phạt do chậm thực hiện nghĩa vụ 1.050.000 đồng, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn; căn cứ vào Điều 6.2 của Hợp đồng có nội dung: Phạt vi phạm hợp đồng, nếu trong trường hợp bên vay vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào quy định tại hợp đồng, theo mức quy định. Do đó yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ được chấp nhận.

Từ những nhận định và phân tích nêu trên. Hội đồng xét xử, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Thanh D phải chịu số tiền 503.500 đồng; Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Áp dụng Điều 305, Điều 471 và Điều 476 của Bộ Luật Dân sự năm 2005.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H

Buộc ông Vũ Thanh D phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 10.070.000 (Mười triệu không trăm bảy mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án, có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 503.500 (Năm trăm lẽ ba nghìn năm trăm) đồng ông Vũ Thanh D phải chịu; hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0015487 ngày 30/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

3.1. Quyền kháng cáo, Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Vũ Thanh D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

3.2. Quyền kháng nghị, Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

4. Quyền yêu cầu Thi hành án: “Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ