- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án phạm tội Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thành T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2025/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá như sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 426/2025/HS-PT Ngày: 15/10/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Trọng Đoàn;
Ông Nguyễn Nam Thành.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Mỹ Duyên, Thư ký Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 15 tháng 10 năm 2025, tại Trụ sở Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 112/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo Vũ Thành T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2025/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
- Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Vũ Thành T; giới tính: Nam; sinh ngày 07/5/1998 tại tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ: Số nhà E T, phường H, tỉnh Thanh Hóa (nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi sáp nhập: Số nhà E T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa); số CCCD: 038098003664; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố: Vũ Mạnh G, sinh năm 1974; mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1978; vợ, con: Chưa có; Tiền án: Bản án số 314/2018/HSST ngày 28/11/2018 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 42 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, Bản án số 116/2019/HSST ngày 18/4/2019 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp hình phạt 02 Bản án bị cáo phải chấp hành là 06 năm 06 tháng tù, chấp hành xong án phạt tù ngày 18/01/2023, chấp hành xong án phí dân sự ngày 25/10/2019; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2016 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi chống người thi hành công vụ (chưa nộp phạt), năm 2017 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” (chưa nộp phạt); bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Trong vụ án còn có 14 bị cáo và 02 người bị hại khác không kháng cáo, không bị kháng nghị, không triệu tập tham gia phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 20/01/2024, Lưu Ngọc H đi ăn liên hoan tất niên tại quán T4, địa chỉ Lô G, KĐT B, phường Đ, thành phố T cùng nhóm bạn, khi đi H cất giấu trong người 01 con dao (dạng dao bấm, dài khoảng 22cm, cán nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại). Lúc ngồi ăn uống H nhìn thấy anh Lý Văn C (người có mâu thuẫn trước đây với H) cũng đang tham gia liên hoan nên nảy sinh ý định đánh anh C để trả thù.
Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, anh C cùng một số bạn bè đi lên sân khấu để nhảy, H liền đi từ phía cánh gà lên sân khấu tiến sát lại chỗ anh C đứng nhảy, lợi dụng lúc anh C không chú ý quan sát, H rút dao từ trong người ra bằng tay phải, rồi vung dao đâm liên tiếp nhiều nhát vào đầu anh C theo chiều từ sau ra trước, từ trên xuống dưới. Bị đâm bất ngờ anh C dùng tay ôm đầu bỏ chạy (BL: 263-271; 352-397).
Lúc này anh Trần Văn B, sinh năm 2003, trú tại thôn B, xã N, huyện N và anh Nguyễn Công T2, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã M, huyện N (bạn của anh C) đang nhảy bên cạnh anh C thấy H vung dao đâm anh C liền dùng tay ôm cổ, kéo H ra không cho H đánh anh C nữa. H bị anh B và anh T2 ôm cổ kéo ra nhưng vẫn tiếp tục vung dao đâm về phía anh C, mọi người xung quanh vào can ngăn anh B và T2 lùi về phía sau rồi ra về (BL: 399-407; 426-433). Cùng lúc này một số bạn bè của anh C và H gồm: Vũ Thành T, Nguyễn Mạnh C1, Nguyễn Khắc Ngọc H1, Lê Đức T3, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Đức L, Nguyễn Thừa Quốc V, Nguyễn Quang V1, Ngô Hữu L1, Lường Văn H2, Lê Nhữ M, Lê Thái D, Lâm Bá D1, Hồ Trọng H3 đã xông vào xô đẩy, dùng tay chân, bát, đĩa sứ, cốc thủy tinh và ghế có ở trong quán để đánh nhau, hai bên đánh từ trong quán rồi chạy ra ngoài đường lùa đuổi, hò hét, ném nhau gây mất trật tự khu phố, khoảng 30 phút mới giải tán (BL: 35-54; 272-283).
Trích xuất dữ liệu Camera an ninh xác định hành vi lùa đuổi, hò hét, đánh nhau gây mất trật tự trong và ngoài quán Topbeer của Vũ Thành T (BL: 1278), cụ thể như sau: Vũ Thành T (T là bạn của Lưu Ngọc H), khoảng 21 giờ, T lên sân khấu nhảy, T nhảy ở hàng đầu tiên (nhìn ra phía cửa chính cách vị trí H cầm dao đâm C khoảng 1,5m) khi H cầm dao đâm anh C, T đang quay lưng lại không nhìn thấy. Khi anh B và T2 ôm cổ H kéo ra, tiếng nhạc trên sân khấu bị tắt, T quay lại thấy bạn bè trong nhóm của mình đang xô xát đánh nhau nên T chạy lại dùng tay túm cổ áo anh Hồ Trọng H3 (H3 là bạn của C) ghì xuống để mọi người trong nhóm đánh H3. Nhóm bạn của anh C thấy vậy liền xông vào đánh Vũ Thành T, Lâm Bá D1 (bạn của anh C) cầm đĩa sứ ném vào đầu của Vũ Thành T. Sau đó, Vũ Thành T đi ra ngoài đường đứng cùng nhiều người hò hét, chửi bới nhau với nhóm bạn anh C khoảng 30 phút, rồi cùng đồng bọn ra về (BL: 534-600).
Tại bản kết luận giám định số 970/KL-KTHS ngày 11/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận về hình ảnh thu giữ trong Camera an ninh (BL: 83): “Không tìm thấy dữ liệu video bị xóa trong khoảng thời gian từ 18h30p đến 22h ngày 20/01/2024 trong 02 ổ cứng của 01 đầu thu gửi giám định”.
- Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2025/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Vũ Thành T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Vũ Thành T: 20 (hai mươi) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 14 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các bị cáo, người bị hại theo quy định của pháp luật.
- Ngày 12 tháng 5 năm 2025, bị cáo Vũ Thành T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo Vũ Thành T giữ nguyên đơn kháng cáo và trình bày:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Bản án sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, mức hình phạt đã xét xử đối với bị cáo là quá cao so với hành vi phạm tội của bị cáo nên xin giảm nhẹ một phần hình phạt.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên tòa sau khi phân tích, nội dung và các tình tiết của vụ án có quan điểm:
+ Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của bị cáo Vũ Thành T là trong hạn và đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thành T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không có khiếu nại, tố cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Về tội danh, điều luật áp dụng: Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Vũ Thành T khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Bản án sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.
Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Thành T phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Đêm ngày 20/01/2024, tại quán T4, địa chỉ Lô G, KĐT. Bắc Cầu H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; sau khi Lưu Ngọc H dùng dao đâm anh Lý Văn C thì Vũ Thành T cùng với Nguyễn Mạnh C1, Nguyễn Khắc Ngọc H1, Lê Đức T3, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Đức L, Nguyễn Thừa Quốc V, Nguyễn Quang V1, Ngô Hữu L1, Lường Văn H2, Lê Nhữ M, Lê Thái D, Lâm Bá D1, Hồ Trọng H3 đã xông vào xô đẩy, dùng tay chân, bát, đĩa sứ, cốc thủy tinh và ghế có ở trong quán để đánh nhau, hai bên đánh từ trong quán rồi chạy ra ngoài đường lùa đuổi, hò hét, ném nhau gây mất trật tự khu phố khoảng 30 phút mới giải tán. Trong đó, Vũ Thành T là người dùng tay, chân tham gia đánh nau, lùa đuổi, la hét từ trong quán ra đến ngoài đường của khu phố.
Do đó, Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Thành T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về hình phạt:
Hành vi của phạm tội của bị cáo Vũ Thành T đã xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, nhân thân đã có tiền án chưa được xoá án tích, đã 02 lần bị Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa chấp hành nên cần xử phạt nghiêm minh để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét thấy mức hình phạt mà Bản án sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo là phù hợp với tính chất của tội phạm, tương xứng với hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm xẩy ra, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình bản photo có công chứng Huy chương kháng chiến hạng nhì của bà Nguyễn Thị M1, Chủ tịch nước Truy tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho bà Nguyễn Thị L2 nhưng không có xác nhận về quan hệ nhân thân đối với bị cáo của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên không có cơ sở xem xét. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thành T.
Với những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thành T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Vũ Thành T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thành T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2025/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá như sau:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Thành T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Vũ Thành T: 20 (hai mươi) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Bị cáo Vũ Thành T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ 1-TANDTC; - Viện CT và KSXXPT tại Hà Nội,VKSND tối cao; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hoá; - CA tỉnh Thanh Hoá; - THADS tỉnh Thanh Hoá; - Bị cáo Trung (theo địa chỉ); - Lưu HSVA, PHCTP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Tiến Dũng |