vanban.org

Bản án 426/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 30/05/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/05/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Sơn Q.

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về giảm mức hình phạt cho bị cáo Huỳnh Sơn Q. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Sơn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Sơn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Sơn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 426/2024/HS-PT
Ngày 30-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

Các Thẩm phán:

Ông Trần Ngọc Tuấn

Ông Ngô Đức Thọ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 861/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo Đinh Minh T, Huỳnh Duy P, Huỳnh Sơn Q do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Sơn Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị:

Huỳnh Sơn Q, sinh ngày 23 tháng 12 năm 2000 tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Sơn T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc T2; Vợ Nguyễn Thị Thúy M (kết hôn ngày 05/9/2023, sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử), con: có một con còn nhỏ; Tiền án, tiền sự: không.

Đặc điểm nhân thân của bị cáo: Từ nhỏ đến lớn, bị cáo sống chung với gia đình cha mẹ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo tại ngoại.

- Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị:

Huỳnh Duy P sinh ngày 05/02/1995, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Phú T3 và bà Phạm Thị L; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Đặc điểm nhân thân của bị cáo: Từ nhỏ đến lớn, bị cáo sống chung với gia đình cha mẹ tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Huỳnh Sơn Q: Ông Phạm Văn V là Luật sư của Văn phòng luật sư Trần Phạm & Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng khác: không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Minh T làm công nhân, ông MA JINFENG có quốc tịch Trung Quốc làm quản lý tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Y, Khu công nghiệp L. Do T thường xuyên bị ông MA JINFENG trừ lương nên trong lúc uống cà phê cùng Huỳnh Sơn Q, Huỳnh Duy P, T kêu P đi tìm đánh dằn mặt ông MA JINFENG thì được P đồng ý. T nói với P là ông MA JINFENG cao, to nên có cây hay ống tuýp sắt không để đánh, P liền chỉ cho T 01 dây xích loại khoá xe máy để trên xe của P, T nói “ừ được”. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/8/2022, P kêu Q điều khiển xe mô tô biển số 94F1-142.55 của Q chở P, còn T điều khiển xe mô tô của T đi trên tỉnh lộ 866B hướng về Khu công nghiệp L. Khi đến đoạn Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, Q và T dừng xe lại chờ ông MA JINFENG. Khoảng 20 phút sau, T quan sát nhìn thấy ông MA JINFENG điều khiển xe mô tô biển số 63D1- 291.10 chở chị Nguyễn Thị Thanh Q1 chạy ngược chiều đến nên T chỉ P “nó kìa, nó kìa”, P liền kêu Q quay xe lại chạy đuổi theo xe ông MA JINFENG một đoạn khoảng 300 mét, Q cho xe vượt qua mặt rồi chặn đầu xe ông MA JINFENG, P xuống xe đi đến dùng dây xích đánh vào tay và vai của ông MA JINFENG, ông MA JINFENG giật được sợi dây xích đánh trả thì P lấy con dao xếp để trong túi áo đã chuẩn bị sẵn đâm 03 cái trúng vào hông, ngực và khuỷu tay của ông MA JINFENG gây thương tích, ông MA JINFENG được người dân đưa đến tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T cấp cứu và điều trị vết thương từ ngày 23/8/2022 đến ngày 26/8/2023 thì ra viện.

Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tiền Giang lập lúc 09 giờ 10 phút ngày 28 tháng 8 năm 2022, ghi nhận:

Hiện trường vụ án xảy ra tại đường tỉnh lộ 866B thuộc Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Hướng Đông tiếp giáp với đường T chạy dọc về hướng T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Hướng Tây tiếp giáp đường tỉnh lộ 866B chạy dọc về hướng cầu K, xã T, huyện T; H Bắc tiếp giáp đường tỉnh lộ 866B, kế đến là khu đất trống; Hướng Nam tiếp giáp với khu đất trống có nhiều cỏ dại mọc.

Tiến hành khám nghiệm ghi nhận: đường tỉnh lộ 866B chạy dọc theo hướng Đ, rộng 8m và có vạch phân tuyến không liên tục ở giữa. Nơi xảy ra vụ việc là tại lề đường trên tỉnh lộ 866B, không ghi nhận dấu vết. Tại đây phát hiện 01 con dao bằng kim loại màu trắng dài 32,5cm, mũi nhọn, lưỡi dao dài 21cm, lưỡi dao nơi rộng nhất là 46mm, trên con dao có dính vết đất, cát. Mở rộng hiện trường ra các hướng không ghi nhận dấu vết khác.

* Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 267/2022/TgT ngày 13/9/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của ông MA JINFENG là 15% do vật sắc nhọn gây nên. Tỷ lệ phần trăm từng vết thương như sau:

- Sẹo vết thương hông trái khoảng liên sườn 12 đường nách giữa. Tỷ lệ: 02% (hai phần trăm);

- Sẹo vết thương ngực trái (dưới xương đòn trái). Tỷ lệ: 01% (một phần trăm);

- Sẹo vết thương mặt trước nằm trên khuỷu tay trái. Tỷ lệ: 01% (một phần trăm);

- Tổn thương màng phổi, tràn dịch màng phổi trái gây di chứng dày dính màng phổi trái. Tỷ lệ: 11% (mười một phần trăm).

* Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 38/KL-VPYTW ngày 17/01/2023 của V1 Huỳnh Duy P:

- Về y học:

+ Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh các rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn khác do bệnh não hoặc rối loạn chức năng não (F07.8

- ICD.10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện nay: Đương sự đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã tuyên xử:

1. Tuyên bố các bị cáo Đinh Minh T, Huỳnh Duy P và Huỳnh Sơn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo Huỳnh Duy P áp dụng thêm điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

1.1. Bị cáo Đinh Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

1.2. Bị cáo Huỳnh Duy P 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2022.

1.3. Bị cáo Huỳnh Sơn Q 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, bị cáo Huỳnh Sơn Q có làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo không đúng pháp luật, chưa xem xét hết các tình tiết và chứng cứ trong hồ sơ vụ án, vi phạm thủ tục tố tụng, xin được xem xét sửa Bản án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, tuyên hành vi bị cáo chưa đủ cấu thành tội phạm do hành vi vượt quá của bị cáo P, nếu Tòa án xác định bị cáo có tội, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Huỳnh Sơn Q thay đổi một phần kháng cáo, xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng tội danh, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo xuất trình các chứng cứ giảm nhẹ như Đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; là lao động chính trong gia đình; chưa có tiền án, tiền sự; gia đình có ông Nguyễn Văn T4 là liệt sĩ (anh ruột của ông ngoại bị cáo).

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.

Về nội dung: Bị cáo đã thay đổi một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, hoàn cảnh gia đình bị cáo có khó khăn; đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại địa phương; có người thân có công với cách mạng. Tuy nhiên mức phạt hai năm tù là tương xứng và bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận: Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng như Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử không có mặt bị hại Ma JinFeng, bị hại là người nước ngoài nhưng không thực hiện các thủ tục ủy thác tư pháp là vi phạm nghiêm trọng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thiếu sót. Về nội dung: Luật sư không thống nhất tội danh mà cấp sơ thẩm xét xử bị cáo, bị cáo P được Q chở đi nhưng Q chỉ nghe bàn bạc là dùng dây xích để đánh bị hại, Q không biết P đem theo dao. Khi P đâm bị hại là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo nên bị cáo không phạm tội Cố ý gây thương tích. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Q phạm tội có tính chất côn đồ là không đúng. Tuy nhiên, nếu cấp phúc thẩm xác định bị cáo có tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên thì cần xem xét bị cáo chỉ có vai trò giúp sức, không có tính côn đồ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27 tháng 9 năm 2023, bị cáo Huỳnh Sơn Q có làm Đơn kháng cáo. Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Q nộp trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:

Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo Đinh Minh T, Huỳnh Duy P và Huỳnh Sơn Q phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Do Đinh Minh T có mâu thuẩn với bị hại trong lúc làm ở công ty, nên khi uống cà phê cùng với Huỳnh Duy P và Huỳnh Sơn Q thì T có bàn bạc sẽ đánh bị hại để dằn mặt. Từ sự bàn bạc đó, khi bị hại ra về thì Q dùng xe chở P chặn đầu xe của bị hại MaJinFeng. P dùng dây xích đánh bị hại, nhưng do bị hại cao to, khỏe hơn nên bị đánh lại. Bị cáo mới dùng dao đâm bị hại để thoát thân. Bị hại bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tích 15%. Bị cáo P và Q không có mâu thuẩn gì với bị hại nhưng khi nghe T kêu đánh dằn mặt bị hại thì các bị cáo dùng hung khí nguy hiểm thực hiện ngay tội phạm, hành vi này thể hiện tính hung hăng, côn đồ, bất chấp pháp luật đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét các bị cáo T và P bàn bạc sử dụng dây xích đánh bị hại nhưng không nhằm mục đích gây thương tích cụ thể như thế nào. Khi bị bị hại đánh trả thì bị cáo P liền lấy dao chuẩn bị sẵn trong người đâm bị hại nhằm mục đích tẩu thoát, nên không được xem là hành vi vượt quá của người thực hành. Do đó, ý kiến của luật sư cho rằng, hành vi của bị cáo Q không phạm tội là không phù hợp nên không chấp nhận.

Nhận thấy, về ý thức chủ quan các bị cáo nhận thức được rằng, mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng và sức khoẻ, mọi hành vi trái pháp luật gây tổn hại đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Thế nhưng, chỉ vì bất đồng với cách quản lý của bị hại tại nơi làm việc mà bị cáo T đã rủ rê, xúi giục các đồng phạm đánh bị hại để trả thù. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Vì thế, xử phạt các bị các hình phạt nghiêm khắc là cần thiết, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Sơn Q:

Xét thấy, giữa bị cáo Q và bị hại không quen biết, không có mâu thuẩn từ trước, nhưng khi nghe P kêu chở đi đánh bị hại thì bị cáo đồng ý. Điều đó thể hiện tính hung hăng xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác, xem thường pháp luật, là hành vi mang tính chất côn đồ. Đối chiếu quy định tại Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Điều 65 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo không đủ điều kiện để áp dụng, nên không có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Trong vụ án này vai trò của bị cáo Q chỉ là người chở P đến địa điểm đón đánh bị hại, bị cáo cũng không tham gia đánh bị hại, chỉ nghe mà không cùng P bàn bạc với T về cách thức, thủ đoạn đánh bị hại như thế nào. Khi P đâm bị hại bị cáo cũng bỏ chạy thoát thân, nên vai trò nguy hiểm trong vụ án bị cáo là thấp nhất, là người giúp sức. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo P tại điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự về tình tiết “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” để xét xử bị cáo P mức án bằng với mức án tuyên phạt bị cáo Q là chưa tương xứng với vai trò của từng bị cáo. Mặt khác, bị cáo Q chưa có tiền án, tiền sự; có tham gia phong trào dân quân tự vệ tại địa phương; có người thân có công với cách mạng; có xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; tại phiên tòa phúc thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự giảm một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo Q. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Huỳnh Sơn Q.

Do chấp nhận một phần kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Sơn Q.

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về giảm mức hình phạt cho bị cáo Huỳnh Sơn Q.

1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Sơn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Sơn Q.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Sơn Q 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Sơn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ