- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Ngân hàng TNHH Một thành viên UOB1 (Việt Nam) (Ngân hàng UOB).
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 426/2023/HS-PT Ngày 30 tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh;
Các Thẩm phán:
Ông Chung Văn Kết;
Bà Lê Thuý Cầu.
- Thư ký Tòa án ghi phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2023/TLPT-HS ngày 11 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Yến Ph1; Do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 559/2022/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo không kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Yến Ph1, giới tính: nữ; sinh ngày 03 tháng 11 năm 1988 tại tỉnh An Giang; nơi ĐKTT: 254/67 Âu Cơ, Phường 9, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nhân viên ngân hàng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh C1 và bà Doãn Thị Y1; bị cáo có chồng (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giam từ ngày 27/10/2021 đến 28/01/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại “vắng mặt”.
-Bị hại: Ngân hàng TNHH Một thành viên UOB1 (Việt Nam) (Ngân hàng UOB)
Địa chỉ: Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo ủy quyền:
1/ Bà Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1977 “có mặt”.
HKTT: quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
2/ Ông Bùi Công T1, sinh năm 1993 “có mặt”.
HKTT: Thọ Nghiêp, Xuân Trường, Nam Định.
Nơi ở: Phường 4, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1/ Ông Hồ Văn T1 “vắng mặt”
Địa chỉ: phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
2/ Ông Trần Anh Tr1, sinh năm 1971 “vắng mặt”
Địa chỉ: thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 01/2018 đến cuối tháng 5/2019, Nguyễn Yến Ph1 làm việc tại Ngân hàng TNHH MTV UOB1 Việt Nam (UOBV), Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ phường Bến Nghé, Quận 1). Nhiệm vụ của Phương là nhân viên quản lý khách hàng cá nhân ở Ngân hàng UOBV, chịu trách nhiệm tư vấn, nộp hồ sơ yêu cầu mở tài khoản thanh toán, tài khoản tiền gửi theo quy định nội bộ của Ngân hàng UOBV.
Đầu năm 2019, Nguyễn Yến Ph1 nghe Bùi Hoàng Trọng là người cùng làm chung với Phương tại Ngân hàng UOBV (đã nghỉ việc từ tháng 4/2019, hiện đang sinh sống và làm việc tại Singapor) có quản lý tài khoản số 1029280474 của ông Bùi Văn Đọc (nguyên Tổng Giám mục Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh) cho Phương biết ông Đọc đã mất, tài khoản của ông Đọc phát sinh chuyển tiền vào từ nước ngoài, nhưng một thời gian dài không phát sinh tiền chuyển đi, có thể ông Đọc không có người thân. Thời điểm này, ông Trần Anh Tr1 là người được ủy quyền điều hành tài khoản của ông Đọc theo giấy ủy quyền ngày 13/5/2015 (không xác định thời hạn ủy quyền)
Đến tháng 3/2019, do Phương vay tiền của ông Chay Wee Lee (Quốc tịch Malaysia) số tiền 770.000.000 đồng để đầu tư chứng khoán, nhưng bị thua lỗ, không có tiền trả cho ông Lee, nên Phương nảy sinh ý định rút tiền từ tài khoản của ông Đọc để trả tiền cho ông Lee.
Nguyễn Yến Ph1 biết được Ngân hàng UOBV quy định quy trình tiếp nhận và xử lý giao dịch chuyển tiền tại quầy đối với khách hàng cá nhân, gồm 04 bước như sau: Bước 1: Nhân viên giao dịch tại quầy của Ngân hàng UOBV tiếp nhận Lệnh chuyển tiền từ chủ tài khoản/người được ủy quyền điều hành tài khoản hoặc nhân viên kinh doanh của Ngân hàng UOBV hoặc bên thứ 3; Bước 2: Nhân viên giao dịch sẽ ghi ngày giờ nhận lệnh và chuyển bản scan Lệnh chuyển tiền cho Phòng thanh toán; Bước 3: Nhân viên phòng thanh toán sẽ tiến hành in Lệnh chuyển tiền nhận từ nhân viên giao dịch quầy và kiểm tra thông tin, chữ ký đã đầy đủ trên lệnh chuyển tiền hay chưa. Nếu đầy đủ, Nhân viên phòng thanh toán chuyển Lệnh chuyển tiền cho nhân viên kiểm soát giao dịch để kiểm tra, đối chiếu chữ ký trên Lệnh chuyển tiền với chữ ký mà chủ tài khoản/người được ủy quyền điều hành tài khoản đã đăng ký với Ngân hàng UOBV. Sau các bước kiểm tra trên, nếu thông tin và chữ ký trên Lệnh chuyển tiền hợp lệ, nhân viên kiểm soát giao dịch chuyển Lệnh chuyển tiền đến nhân viên thực hiện giao dịch; Bước 4: Nhân viên thực hiện giao dịch đăng nhập vào hệ thống chuyển tiền, điền tất cả thông tin chuyển tiền vào hệ thống, sau đó chuyển cho nhân viên kiểm soát giao dịch phê duyệt. Sau khi kiểm tra và phê duyệt giao dịch trên hệ thống, nhân viên kiểm soát giao dịch chuyển Lệnh chuyển tiền cho cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Nguyễn Yến Ph1 đã lợi dụng bước 2 quy trình chuyển tiền của Ngân hàng UOBV không yêu cầu việc kiểm tra giấy tờ tùy thân của chủ tài khoản/người được ủy điều hành tài khoản và bước 4 quy trình, không điện thoại xác nhận lại với chủ tài khoản/người được ủy quyền điều hành tài khoản trước khi thực hiện Lệnh chuyển tiền, nên ngày 07/5/2019, Phương lấy mẫu Lệnh chuyển tiền của Ngân hàng và đánh máy nội dung “ông Bùi Văn Đọc, tài khoản số 1029280474 vào phần thông tin đơn vị chuyển tiền; thông tin đơn vị thụ hưởng là em trai của Phương tên Nguyễn Danh Đức, tài khoản thụ hưởng số 19028849862017, Ngân hàng Techcombank, số tiền 470.000.000 đồng”. Sau khi in Lệnh chuyển tiền xong, Phương đã giả chữ ký của ông Trần Anh Tr1. Phương mang Lệnh chuyển tiền nộp cho quầy giao dịch (hiện Phương không nhớ giao nộp cho ai) và nói Lệnh chuyển tiền của khách. Sau đó, Phương điện thoại cho em trai là Nguyễn Danh Đức và nói Đức sau khi nhận được 470.000.0000 đồng thì chuyển vào tài khoản số 1023049944 của ông Chay Wee Lee. Nhân viên Ngân hàng tưởng Lệnh chuyển tiền là của ông Trần Anh Tr1 yêu cầu, nên đã chuyển số tiền 470.000.000 đồng từ tài khoản của ông Đọc sang tài khoản của Nguyễn Danh Đức và Phương đã chiếm đoạt số tiền trên để trả nợ cho ông Lee.
Đến ngày 17/5/2019, Phương tiếp tục giả chữ ký, chữ viết của ông Trần Anh Tr1 trên Lệnh chuyển tiền và nộp vào quầy giao dịch để yêu cầu chuyển số tiền 450.000.000 đồng từ tài khoản của ông Đọc sang tài khoản của Nguyễn Danh Đức. Sau đó, Phương điện thoại cho Đức khi nào nhận được tiền thì chuyển vào số tài khoản 0071001179769 tại Ngân hàng Vietcombank, chủ tài khoản Bùi Hoàng Trọng.
Đến ngày 18/10/2019, ông Trần Anh Tr1 phát hiện tài khoản số 1029280474 của ông Bùi Văn Đọc phát sinh 03 giao dịch nhưng ông Tráng không thực hiện, gồm: ngày 18/02/2019, chuyển số tiền 10.000 USD; ngày 07/5/2019 chuyển số tiền 20.180,33 USD; ngày 17/5/2019, chuyển số tiền 19.288,47 USD, tổng cộng 49,468,8 USD (tương đương 1.151.900.000 đồng), nên ông Tráng làm đơn khiếu nại Ngân hàng UOBV. Đến ngày 28/10/2019, Ngân hàng UOBV trình báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Quá trình điều tra, 02 Lệnh chuyển tiền ngày 07/5/2019 và ngày 17/5/2019 do Nguyễn Yến Ph1 thực hiện. Riêng đối với Lệnh chuyển tiền ngày 18/10/2019, qua điều tra xác định số tiền 10.000 USD (tương đương 231.900.000 đồng) chuyển từ tài khoản của ông Bùi Văn Đọc sang tài khoản số 1023289011, tên Nguyễn Văn Ba mở tại Ngân hàng UOBV. Ngày 19/02/2019, tài khoản của Ba chuyển số tiền 231.900.000 đồng đến tài số 1023289488 tên Phạm Thành Giới tại Ngân hàng UOBV.
Qua điều tra, xác minh tài khoản của ông Phạm Thành Giới, xác định ngày 27/9/2018, Bùi Hoàng Trọng làm khống lệnh chuyển tiền, giả mạo chữ ký của ông Phạm Thành Giới để chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng từ tài khoản của ông Giới rồi chuyển đến tài khoản của Đặng Thị Cúc tại Ngân hàng UOBV. Đến ngày 18/10/2018, Trọng làm lệnh chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của Đặng Thị Cúc để chuyển 950.000.000 đồng vào tài khoản số 091509471041 của Trọng mở tại Ngân hàng HSBC và ngày 31/10/2018, chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản số 1023028382 của Trọng mở tại Ngân hàng UOBV.
Sau khi lấy tiền từ tài khoản của ông Phạm Thành Giới 1.000.000.000 đồng. Trọng đã chuyển số tiền 766.000.000 đồng từ tài khoản của mình sang tài khoản cá nhân tên Đặng Thị Cúc, Lý Thị Thanh Phượng, Mai Phương Thảo, Hà Minh Đức, Huỳnh Minh Sướng, Phạm Văn Cháy và Hoàng Thị Phượng. Sau đó, Trọng tiếp tục chuyển tiền từ các tài khoản này vào tài khoản của ông Giới để trả lại số tiền 1.000.000.000 đồng đã rút trước đó.
Qua xác minh, 05 tài khoản cá nhân tên Đặng Thị Cúc, Lý Thị Thanh Phượng, Mai Phương Thảo, Phạm Văn Cháy và Hoàng Thị Phượng do Trọng giả chữ ký và đăng ký mở tài khoản cá nhân tại Ngân hàng UOBV. Còn các tài khoản của Huỳnh Minh Sướng và Hà Minh Đức tại Ngân hàng UOBV do Nguyễn Yến Ph1 đăng ký mở tài khoản. Tuy nhiên Phương khai do trước đây cùng làm chung với Trọng (Trọng là trưởng nhóm), để đạt chỉ tiêu về việc mở tài khoản cho khách hàng nên Trọng đưa cho Phương 02 hồ sơ tên Huỳnh Minh Sướng và Hà Minh Đức đã có ký sẵn tên và Phương ký phần nhân viên mở tài khoản rồi đưa lại cho Trọng. Phương không biết và không sử dụng 02 tài khoản trên.
Tại Bản kết luận giám định số 296/KLGĐ-TT ngày 08/01/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Chữ viết họ tên Trần Anh Tr1 trên lệnh chuyển tiền ngày 07/5/2019 và 17/5/2019 so với chữ viết của Trần Anh Tr1 (thật) trên các tài liệu dùng làm mẫu so sánh không phải do cùng một người viết ra.
Tại Bản kết luận giám định số 822/KLGĐ-TT ngày 25/02/2021 của Phòng Kỹ thuận Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chữ viết họ tên Trần Anh Tr1 dưới mục “Chữ ký người chuyển tiền & con dấu (nếu có) ” trên lệnh chuyển tiền ngày 07/5/2019 và ngày 17/5/2019 ở mẫu cần giám định so với chữ viết của Nguyễn Yến Ph1 trên các tài liệu dùng làm mẫu so sánh do cùng một người viết ra ”.
Tại Bản kết luận giám định số 4745/KLGĐ-TT ngày 15/9/2021 của Phòng Kỹ thuận Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với 07 hồ sơ mở tài khoản và 11 Lệnh chuyển tiền như sau:
Chữ viết trên các tài liệu so với chữ viết của Bùi Hoàng Trọng không phải do cùng 1 người viết ra.
Đối với Lệnh chuyển số tiền 10.000 USD từ tài khoản của ông Bùi Vãn Đọc vào ngày 18/02/2019, do chỉ có chữ ký tên “Trần Anh Tr1” (không có chữ viết họ, tên); Lệnh chuyển số tiền 233.000.000 đồng từ tài khoản của ông Nguyễn Văn Ba vào ngày 19/02/2019 chỉ có chữ ký tên “Nguyễn Văn Ba” (không có chữ viết, họ, tên) nên không đủ cơ sở để giám định có phải là chữ ký, chữ viết của Bùi Hoàng Trọng hay không.
Quá trình điều tra, Nguyễn Yến Ph1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Riêng đối với Lệnh chuyển tiền ngày 17/5/2019 với số tiền 450.000.000 đồng, Phương khai do Trọng nhờ Phương làm giả Lệnh chuyển tiền để rút tiền từ tài khoản ông Đọc đưa Trọng mượn và Trọng sẽ trả lại sau. Tuy nhiên, chỉ có lời khai của Phương, Lệnh chuyển tiền là do Phương giả chữ viết, chữ ký của ông Trần Anh Tr1 để thực hiện Lệnh yêu cầu nhân viên Ngân hàng UOBV chuyển tiền. Do vậy, đủ cơ sở xác định Nguyễn Yến Ph1 chiếm đoạt của Ngân hàng UOBV số tiền 920.000.000 đồng.
* Vật chứng:
- Giấy ủy quyền ông Bùi Văn Đọc ủy quyền cho ông Trần Văn Tráng ngày 13/5/2015;
- 01 Lệnh chuyển tiền ngày 18/02/2019, ngày 07/5/2019 và ngày 17/5/2019.
Tất cả các vật chứng trên, hiện được lưu trong hồ sơ vụ án (Bút lục: 09 – 20).
* Về dân sự: Ngày 15/4/2022, Ngân hàng UOBV có Văn bản xác nhận Nguyễn Yến Ph1 và Hồ Văn T1 (đại diện cho Bùi Hoàng Trọng) đã chuyển vào tài khoản của Ngân hàng UOBV số tiền 1.372.000.000 để khắc phục hậu quả.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 559/2022/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Yến Ph1: 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được trừ đi thời hạn tạm giam trước đó từ ngày 27/10/2021 đến 28/01/2022.
Trách nhiệm dân sự:
-Buộc Ngân hàng TNHH MTV UOB1 Việt Nam (UOBV) phải hoàn trả vào tài khoản của ông Bùi Văn Đọc số tiền 920.000.000 (chín trăm hai mươi triệu) đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày tài khoản của ông Bùi Văn Đọc bị bị cáo Nguyễn Yến Ph1 chiếm đoạt theo mức lãi suất đang tồn tại đối với tài khoản tiền gửi của ông Bùi Văn Đọc;
- Buộc Ngân hàng TNHH MTV UOB1 Việt Nam (UOBV) trả lại cho bị cáo Nguyễn Yến Ph1 số tiền 220.000.000 (hai trăm hai mươi triệu) đồng, trả lại cho Hồ Văn T1 232.000.000 (hai trăm ba mươi hai triệu) đồng.
Việc hoàn trả tiền thực hiện một lần, ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Yến Ph1 không kháng cáo.
Ngày 19/12/2022, bị hại Ngân hàng TNHH Một thành viên UOB1 (Việt Nam) (Ngân hàng UOB) có đơn kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự với nội dung sửa Bản án sơ thẩm, không buộc Ngân hàng phải phải hoàn trả số tiền 232.000.000 đồng cho Hồ Văn Toàn, chấp nhận cho Ngân hàng UOB được tiếp tục giữ lại số tiền 232.000.000 đồng trong tổng số 1.372.000.000 đồng cho đến khi có kết luận của cơ quan điều tra hoặc bản án có hiệu lực pháp luật về giao dịch 10.000USD từ tài khoản Bùi Văn Đọc.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo uỷ quyền của bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Quá trình điều tra không xác định được Bùi Hoàng Trọng đồng phạm với Nguyễn Yến Ph1 chiếm đoạt tiền của Ngân hàng UOB, không đủ cơ sở xác định chữ ký trên lệnh chuyển tiền 10.000USD ngày 18/02/2019 có phải của Trọng hay không. Vì vậy chưa đủ cơ kết luận Trọng chiếm đoạt số tiền này. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của Ngân hàng UOB giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đơn kháng cáo của bị hại là Ngân hàng UOB đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định, được xác định là hợp lệ nên kháng cáo của bị hại được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm:
Quá trình điều tra đã chứng minh được bị cáo Nguyễn Yến Ph1 là nhân viên của Ngân hàng UOB, đã dùng thủ đoạn gian dối tự tạo hai lệnh chuyển tiền và hai lần giả chữ ký, chữ viết của ông Trần Anh Tr1 (là người được ông Bùi Văn Đọc uỷ điều hành tài khoản số 1029280474 của ông Đọc tại ngân hàng UOB) để yêu cầu Ngân hàng UOB chuyển 02 số tiền 470.000.000 đồng và 450.000.000 đồng từ tài khoản ông Bùi Văn Đọc vào tài khoản của Nguyễn Danh Đức (em của Phương) để chiếm đoạt tổng số tiền 920.000.000 đồng. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Yến Ph1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị hại Ngân hàng TNHH Một thành viên UOB1 (Việt Nam) (Ngân hàng UOB) đề nghị sửa Bản án sơ thẩm, không buộc Ngân hàng phải phải hoàn trả số tiền 232.000.000 đồng cho Hồ Văn Toàn, chấp nhận cho Ngân hàng UOB được tiếp tục giữ lại số tiền 232.000.000 đồng trong tổng số 1.372.000.000 đồng cho đến khi có kết luận của cơ quan điều tra hoặc bản án có hiệu lực pháp luật về giao dịch 10.000USD từ tài khoản Bùi Văn Đọc, thấy rằng: Quá trình điều tra các cơ quan tiến hành tố tụng sơ thẩm xác định không đủ chứng cử kết luận Bùi Hoàng Trọng giả chữ ký trong lệnh chuyển chuyển tiền 10.000USD từ tài khoản của ông Bùi Văn Đọc vào ngày 18/02/2019 và không đủ cơ sở kết luận Bùi Hoàng Trọng đồng phạm với Nguyễn Yến Ph1. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP HCM tiếp tục củng cố chứng cứ, chứng minh để xử lý tiếp.
Chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ thể hiện anh Hồ Văn T1 đã nộp số tiền 1.152.000.000 đồng để khắc phục cho cho Ngân hàng UOB, trong đó khắc phục thay cho Bùi Hoàng Trọng 672.000.000 đồng, khắc phục thay cho Nguyễn Yến Ph1 480.000.000 đồng. Như vậy, anh Toàn đã nộp tiền khắc phục nhiều hơn số tiền bị cáo Ph1 chiếm đoạt của Ngân hàng UOB là 232.000.000 đồng. Đồng thời, do không chứng minh được Bùi Hoàng Trọng đồng phạm với bị cáo Ph1 chiếm đoạt tiền của Ngân hàng UOB, cũng như chưa đủ cơ sở kết luận Bùi Hoàng Trọng giả chữ ký trong lệnh chuyển chuyển tiền 10.000USD từ tài khoản của ông Bùi Văn Đọc, vì vậy Toà án cấp sơ thẩm xét xử tuyên buộc Ngân hàng UOB có trách nhiệm hoàn trả 232.000.000 đồng cho anh Hồ Văn T1 là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TNHH Một thành viên UOB1 (Việt Nam) (Ngân hàng UOB), giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của bị hại, giữ nguyên án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự là có căn cứ, được chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kề từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Ngân hàng TNHH Một thành viên UOB1 (Việt Nam) (Ngân hàng UOB). Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 559/2022/HS-ST ngày 06/12/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần trách nhiệm dân sự.
Buộc Ngân hàng TNHH MTV UOB1 Việt Nam (UOBV) trả lại cho Hồ Văn T1 232.000.000 (hai trăm ba mươi hai triệu) đồng.
Việc hoàn trả tiền thực hiện một lần, ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm (tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Yến Ph1, trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Ph1, án phí hình sự, dân sự sơ thẩm) không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - TAND TP.HCM (2); - VKSND TP.HCM (1); - Cục THADS TP.HCM (1); - Sở Tư pháp TP.HCM (1); - Công an TP.HCM (1); - Trại tạm giam Công an TP.HCM (2); - Lưu VP(3), HS(2).AN-TLQ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thịnh |