- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành T và đại diện người bị hại.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 426/2019/HSPT Ngày 25 tháng 7 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Tuấn
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Quốc Khởi
Ông Đặng Văn Ý
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 06/2019/TLPT-HS ngày 02 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Thành T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2018/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thành T; sinh ngày 24-3-2001 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn 9, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông: Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1974; con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1976; cả hai hiện cư trú tại: Thôn 9, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 18-6-2017 bị Công an huyện L xử phạt Hành chính bằng hình thức Cảnh cáo vì đã có hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác;
Bị bắt giam ngày 04-6-2018 (có mặt).
Đại diện hợp pháp của bị cáo T: Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976; cùng địa chỉ: Thôn 9, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo: Trợ giúp viên ông Phạm Văn T
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- Bị hại: Ông Hoàng Văn N (đã chết)
Đại diện hợp pháp bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956 (có mặt)
2. Ông Hoàng Minh T, sinh năm 1957 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Ngoài ra trong vụ án còn có những người làm chứng nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 23-5-2018 Hoàng Văn N mượn của Nguyễn Thành T 01 Điện thoại di động OPPO A83 để chơi game và hẹn sáng ngày 24-5-2018 thì sẽ trả lại nhưng N không trả. Sau đó N gọi điện cho T hẹn ngày 04-6-2018 gặp nhau tại thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để nói chuyện. Nghe N nói vậy, trưa ngày 04-6-2018 T điều khiển xe mô tô hiệu Guida Biển kiểm soát 49 T2-5621 chở Nguyễn Văn T là người ở cùng phòng trọ tại nhà số 64 Hoàng Diệu, phường 5, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng về thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để gặp N lấy lại điện thoại. Khi về đến thị trấn N, T ghé vào nhà anh Hoàng Ngọc D, ở Từ Liêm 2, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng là người quen chơi nhưng anh D không có ở nhà nên T chở Nguyễn Văn T vào nhà của bố mẹ N nói chuyện và yêu cầu bố mẹ N trả thay điện thoại cho N nhưng không được chấp nhận. T chở Nguyễn Văn T về nhà anh D, sau đó chạy xe ra chợ mua thức ăn đồng thời mua một dao bầu dài 34,5 cm, cán gỗ dài 11cm, lưỡi dao bầu chỗ rộng nhất 07cm, mũi dao nhọn cất vào túi trong áo khoác đang mặc rồi về nhà anh D nấu ăn. Khoảng 20 giờ khi mọi người đang ăn và uống rượu, thì N gọi điện cho T hẹn ra quán trà sữa của chị Nguyễn Thị Vượng (Vy) gần cổng trường Mầm non Thăng Long để giải quyết. Nghe điện thoại xong, T rủ Nguyễn Văn T đi cùng. Đến nơi thấy N đang ngồi cùng với Đào Văn T và Nguyễn Thanh Sang, T và Nguyễn Văn T vào ngồi cùng. Tại đây T và N xảy ra cãi vã nhau, sau đó N đứng lên đi ra ngoài, thì T đi theo. N đi chếch sang bên kia đường đối diện với cổng trường Mầm non, T đến chỗ N tiếp tục cãi nhau, sau đó dùng tay phải rút dao trong túi áo ra cầm theo chiều thuận đâm nhiều nhát vào người của N. N bỏ chạy khoảng 3 bước chân thì ngã xuống mương thoát nước bên cạnh, T cầm dao lao theo đâm tiếp theo hướng từ trên xuống vào người của N, N đưa tay trái lên đỡ, thì bị dao đâm trúng vào bàn tay. Lúc này N nói: “Mày tha cho anh”, thì T cầm dao chạy lại quán lấy xe cùng Nguyễn Văn T chạy về phòng trọ 64 Hoàng D, phường 5, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng 22 giờ, thì bị Công an bắt giữ cùng hung khí.
Theo bản kết luận pháp y số:177/2018/TT ngày14-6-2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng. Kết luận ông Hoàng Văn N chết do nguyên nhân: Trụy tim mạch cấp trên tử thi bị đa vết thương tổn thương gan- thận- ruột và mạc treo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2018/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 04-6-2018.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định
Ngày 26/11/2018, đại diện người bị hại là bà Nguyễn Thị T và ông Hoàng Minh T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thành T.
Ngày 28/11/2018, bị cáo Nguyễn Thành T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thành T thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã nêu, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo với lý do: Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 120 triệu đồng. Đại diện hợp pháp người bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thành T.
Đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phát biểu: Sau khi phân tích tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thành T. Đại diện Viện kiểm sát cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo khai báo thành khẩn, đã bồi thường một phần thiệt hại, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi và xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 12 năm tù về tội “Giết người” là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trợ giúp viên pháp lý Phạm Văn T trình bày: Thống nhất về tội danh. Còn về hình phạt thì đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại về các tình tiết vụ án như N mượn điện thoại của T không trả nên khi đi lấy lại điện thoại T đã mang theo dao để phòng thân; bị hại đánh bị cáo; gia đình bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo, để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thành T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của các nhân chứng, kết luận giám định và tang vật của vụ án. Đủ cơ sở để kết luận:
Vào tối ngày 23/5/2018 Hoàng Văn N mượn của Nguyễn Thành T 01 điện thoại di động hiệu OPPO A83 hẹn ngày 24/5/2018 sẽ trả lại nhưng N không trả. Sau khi bị T đòi nhiều lần nên N gọi điện cho T hẹn gặp vào ngày 04/6/2018 tại thị trấn N, huyện L để giải quyết. Sau đó, T rủ Nguyễn Văn T là bạn ở cùng phòng trọ đi cùng đến nhà N nhưng không có N ở nhà. T nói chuyện với bố mẹ N và yêu cầu bố mẹ N trả thay cho N nhưng không được chấp nhận. T chở Nguyễn Văn T về lại nhà anh D rồi ra chợ mua thức ăn, đồng thời mua 01 dao bầu dài 34,5cm cán gỗ cất vào túi trong của áo khoác rồi về nhà anh D nấu ăn. Khoảng 20 giờ cùng ngày nhận được điện thoại của N, T rủ Nguyễn Văn T đến quán trà sữa gần cổng trường Mầm non Thăng Long. Tại đây N và T cãi nhau, T dùng dao đâm 04 nhát vào người của N, N bỏ chạy và ngã xuống mương nước, T tiếp tục dùng dao đâm 01 nhát nữa làm N tử vong. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm án của bị cáo và kháng cáo xin giảm án cho bị cáo của đại diện bị hại. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của Nguyễn Thành T đã xâm hại đến tính mạng của người khác; thể hiện tính côn đồ và xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn của xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Hình phạt luật định đối với tội danh này từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: bị cáo khai báo thành khẩn, đã bồi thường một phần thiệt hại, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng thêm Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 nên chỉ xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 12 năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt là đã có chiếu cố cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo và đại diện bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do: Sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo đã bồi thường tổng cộng 120.000.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới. Tuy nhiên mức án mà cấp sơ thẩm đã xét xử là quá nhẹ nên không có căn cứ giảm án cho bị cáo. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Ý kiến của người bào chữa không phù hợp với nhận định trên nên không chấp nhận.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành T và đại diện người bị hại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 04/6/2018.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Công an tỉnh Lâm Đồng; - Cục THA dân sự tỉnh Lâm Đồng; - Trại tạm giam CA tỉnh Lâm Đồng; (Để t/đ cho bị cáo) - ĐDBC (2) - ĐDBH (2) - Lưu VP (3). HS (2). 18b (BA 36) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Tuấn |