vanban.org

Bản án 426/2017/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 11/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại - bà Nguyễn Thị M. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 54/2017/HS-ST ngày 22/02/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

1/ Tuyên bố phạm tội “Giết người”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Kiến C và đồng phạm - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại - bà Nguyễn Thị M. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 54/2017/HS-ST ngày 22/02/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 42 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 426/2017/HS-PT
Ngày 11 tháng 8 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười

Các Thẩm phán:

Bà Huỳnh Thanh Duyên

Bà Trần Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2017/HSPT ngày 05 tháng 4 năm 2017 đối với bị cáo Lưu Kiến C và các bị cáo khác; Do có kháng cáo đại diện hợp pháp của người bị hại và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đối với bản án hình sự sơ thẩm số 54/2017/HSST ngày 22 tháng 02 năm 2017 của Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh.

* Bị cáo bị kháng cáo, kháng nghị:

1/

; g

: nam; sinh năm: 1960 tại Thành phố Hồ Chí Minh-; nơi đăng ký NKTT: 962/3 ADV, Phường 13, Quận 6, T Minh; chỗ

5, phường Đ

; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: l

; con ông: Tân T (chết) và bà Lưu Kim N (chết); hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ; tiền án, tiền sự: không; t

03/11/2015 (có mặt).

2/

; g

: nam; sinh năm: 1986 tại

; nơi đăng ký NKTT: ấ

; chỗ

5, phường Đ

12, Thành phố Hồ Chí Minh (nhà trọ); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp:

1 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; t

15/3/2016 (đã chấp hành xong hình phạt tù) (có mặt).

3/ Lê An G; gi

: nam; sinh năm: 1988 tại An Giang; n

K

5, phường Đ

12, Thành phố Hồ Chí Minh (nhà trọ); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: công nhân; con ông Lê Văn L1, sinh năm 1965 và bà Cao Thị H

1 và 01 con, sin

15/3/2016 (đã chấp hành xong hình phạt tù) (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Lưu Kiến C: Luật sư Hà Ngọc T2 - Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

* Người bị hại:

1/

(là bị cáo trong vụ án).

Nơi đăng ký NKTT: 962/3 ADV, Phường 13, Quận 6, T

Minh; chỗ

5, phường Đ

(có mặt).

2/ A

3, sinh năm 1983 (đã chết).

*

3

3). (có mặt).

Thường trú: xã Tân Thạnh, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

(Ngoài ra trong vụ án còn bị cáo Lê Khoa L2 và 04 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị nên Tòa không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

HP

5, phường Đ

12, T Hồ Chí Minh.

Lê Khoa L2,

, Lê An G

5, phường Đ

12, T Chí Minh.

HP

1 Văn T4

12, Thành phố Hồ Chí Minh. T4

, Lê Khoa L2

. L2

4

4

4

.

T4

1

4

2

. D1

4

1

4

2. L2

. D1 Văn T4

.

Sau khi Lê Văn T4

1

, L2

3

, T3

2

. L2

4

Công ty MHP, L2, A

3

Công ty MHP

.

2

, D1

03

3

t. D1

4

40

04

).

T3, L2

Công ty MHP. D2

4

2

.

, Lê An G L2

Công ty MHP

, G người ở đây.

ở trong Công ty MHP

2

68

30

. Thấy Phạm Trường T c

, L2

, G

, T công ty MHP thì C

3

, anh T3

. Lúc này L2

, C

HP,

3

3. Thấy T3 bị đâm, L2

.

Phạm Trường T3

.

03/11/2015

.

Lê Khoa L2

.

Theo Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 871-15/KLGĐ– PY ngày 25/01/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự -

: “

3

”

65/Tg.T.16 ngày 15/02/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự -

: “Đa

2,5

3

: 05%”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 54 ngày 22 tháng 02 năm 2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Tuyên bố

phạm tội “Giết người”; Lê Khoa L2 phạm tội

; Lê An G phạm tội

.

* Áp dụng khoản 2 Điều 93, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự:

1/ Xử phạt:

04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2015.

2/ Áp dụng

phải bồi thường 90.000.000 đồng c

3, được khấu trừ vào số tiền 90.000.000 đồng đã bồi thường trước nên không phải thi hành thêm (Theo Biên nhận tiền bồi thường ngày 18/7/2016 giữa bên giao tiền là bà Lưu Thiếu M1 và bên nhận tiền là ông Phạm Ngọc và Nguyễn Thị M).

Buộc Lê Khoa L2, Lê An G

phải cấp dưỡng mỗi tháng 1.210.000 đồng (cụ thể: Lê Khoa L2 phải chịu nửa; Lê An G mỗi người chịu một nửa của nửa còn lại) để nuôi trẻ Phạm Thị Mỹ Kiều sinh ngày 03/02/2002 cho đến khi đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01/11/2015.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Lê Khoa L2, Nguyễn Nhựt T, Lê An G; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 02/3/2017, đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo yêu cầu đưa bà Lưu Kiến M1 là chủ công ty Halo vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để buộc bà M1 phải bồi thường thiệt hại cho bị hại do người làm công của bà M1 gây ra và yêu cầu xem xét lại phần trách nhiệm dân sự,

Ngày 10/3/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Lưu Kiến C và xét lại phần bồi thường dân sự đối với bị cáo Lê An G và Trần Nhựt T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Lưu Kiến C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung án sơ thẩm đã xét xử, bị cáo đề nghị bác kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của bà Nguyễn Thị M.

- Bị cáo Lê An G và Trần Nhựt Tr đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xem xét lại phần dận sự của hai bị cáo. Tuy nhiên, Trần Nhựt T và Lê An G mỗi bị cáo tự nguyện bồi thường tiếp cho gia đình bị hại 10.000.000 đồng.

- Đại diện hợp pháp của bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị bà Lưu Thiếu M1 là chủ doanh nghiệp MHP bồi thường cho người bị hại và tăng mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo T và bị cáo G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nghiên cứu, phân tích tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận toàn bộ quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; sửa bản án sơ thẩm, tăng hình phạt đối với bị cáo Lưu Kiến C, xử phạt bị cáo C từ 8 đến 10 năm tù; xem xét lại trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Lê An G và Trần Nhựt T. Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại của Trần Nhựt T và Lê An G. Bác yêu cầu kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại là bà Nguyễn Thị M.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo C trình bày: Thống nhất với tội danh và hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo C. Bản thân bị cáo là đối tượng bị tâm thần nhẹ, hạn chế khả năng nhận thức và hành vi. Nguyên nhân xảy ra vụ án có phần lỗi của phía người bị hại, bị cáo C đồng thời cũng là bị hại trong vụ án. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự: gia đình bị cáo đã bồi thường xong phần dân sự cho gia đình bị hại 90.000.000 đồng và gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Mức án Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là tương xứng. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, ý kiến của các luật sư;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hình thức đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị M là nộp trong hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lưu Kiến C, bị cáo Trần Nhựt T và Lê An G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung vụ án nêu trên.

Xét, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Tòa án cấp sơ thẩm đã thẩm tra và nhận định hành vi của các bị cáo; có cơ sở xác định:

Lê Khoa L2 cho rằng Lê Văn T4 (là công nhân của công ty MHP) nhìn L2 không thiện cảm nên Luân đã dùng ghế và tay đánh nhiều cái vào người T4. Khi bạn của T4 đến hỏi chuyện thì L2 giải thích là do hiểu nhằm rồi bắt tay giản hòa. Tuy nhiên, sau đó L2 đã rủ Phạm Trường T, Lê An G, Trần Nhựt T cùng một số đối tượng khác mang hung khí nguy hiểm là cây sắt, cờ lê, gạch đá, cây tre đến Công ty MHP khiêu khích đánh nhau. Các đối tựơng này đã ném gạch đá và hung khí nguy hiểm vào Công ty MHP. Lúc này, bị cáo Lưu Kiến C đang ở trong Công ty MHP đã chuẩn bị dao và một đoạn cây cơ bi da để tấn công lại. Quá trình ẩu đã, xô xát nhau bị cáo C đã dùng dao đâm anh T3 một nhát vào ngực của anh T3 hậu quả làm cho anh T3 chết do sốc mất máu cấp bởi vết thương đâm thủng phổi phải và quai động mạch chủ. Riêng bị cáo C bị đa chấn thương phần mềm với tỷ lệ thương tích là 05% do Lê Khoa L2 và bị hại T3 tấn công gây ra. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Lưu Kiến C3 về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93; bị cáo Lê Khoa L2 tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104; bị cáo Lê An G và Trần Nhựt T về tội “Gây tối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 245 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại; Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về phần hình phạt đối với bị cáo Lưu Kiến C: Nguyên nhân xảy ra vụ án là do hành vi trái pháp luật của bị hại Phạm Trường T và bị cáo Lê Khoa L2 cùng các đồng phạm khác gây ra. Bản thân bị cáo bị bệnh tâm thần nhẹ, hạn chế về khả năng nhận thức và hành vi. Sau khi phạm tội, gia đình bị cáo đã khắc phục trách nhiệm dân sự cho phía bị hại, phía bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tiết tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và xử phạt bị cáo mức án 4 năm tù là phù hợp, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra. Xét thấy mức án 4 năm tù cũng đủ tác dụng để giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội nên không cần thiết phải tăng hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

- Về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Trần Nhựt T và Lê An G, xét thấy: Trong vụ án này, bị cáo Lê Khoa L2 là nhân tố chủ yếu gây ra vụ án; bị cáo C là người gây ra cái chết của người bị hại Phạm Trường T; còn bị cáo Trần Nhựt T và Lê An G chỉ là người theo sau T3 và L2, hành vi của hai bị cáo này có phần hạn chế, chỉ là gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại tuyên buộc bị cáo Trần Nhựt T và Lê An G liên đới bồi thường dân sự do bị cáo L2 và bị cáo C là không đúng mối quan hệ nhân quả và không đúng với mức độ phạm tội do bị cáo T và bị cáo G gây ra. Nên buộc bị cáo L2 liên đới cùng với bị cáo C để bồi thường dân sự cho bị hại là thỏa đáng và hợp lý. Do đó, nghĩ nên chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sửa bản án sơ thẩm về phần dân sự đối với bị cáo T và bị cáo G. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T và bị cáo G mỗi bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại 10.000.000 đồng. Xét thấy, sự tự nguyện bồi thường của bị cáo T và bị cáo G phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của các bị cáo.

Đối với yêu cầu tăng mức bồi thường và yêu cầu cấp dưỡng của bà Nguyễn Thị M không được bị cáo C, bà Lưu Thiếu M1 đồng ý và không phù hợp với quy định của pháp luật, không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên; Hội đồng xét xử chấp nhận một phần ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao; không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị M.

Đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại - bà Nguyễn Thị M. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 54/2017/HS-ST ngày 22/02/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

1/ Tuyên bố

phạm tội “Giết người”.

Áp dụng khoản 2 Điều 93, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự: Xử phạt:

04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2015.

2/ Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự:

-

phải bồi thường 90.000.000

3, được khấu trừ vào số tiền 90.000.000 đồng đã bồi thường trước nên không phải thi hành thêm đối với phần này (Theo Biên nhận tiền bồi thường ngày 18/7/2016 giữa bên giao tiền là bà Lưu Thiếu M1 và bên nhận tiền là ông Phạm Ngọc và Nguyễn Thị M).

- Buộc Lê Khoa L2 và Lưu Kiến C phải cấp dưỡng mỗi tháng 1.210.000 đồng (cụ thể: Lê Khoa L2 phải chịu nửa; Lưu Kiến C chịu một nửa) để nuôi trẻ Phạm Thị Mỹ Kiều sinh ngày 03/02/2002 cho đến khi đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01/11/2015.

- Buộc bị cáo Trần Nhựt T và Lê An G mỗi bị cáo bồi thường cho gia đình người bị hại (do bà Nguyễn Thị M đại diện nhận) 10.000.000 đồng.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ