vanban.org

Bản án 426/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V

Buộc bà Phạm Trần Hồng A phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền là 26.705.813 (Hai mươi sáu triệu bảy trăm lẽ năm nghìn tám trăm mười ba) đồng. Kể từ ngày bản án, có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 426 /2017/DS-ST
Ngày: 22/9/2017
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình

Các Hội thẩm Nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tiến Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Ánh Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Đoàn, Thư ký Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2017/TLST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 384//2017/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 295/2017/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V

Địa chỉ: A, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1990 – địa chỉ: A đường B, phường Q, thành phố B, tỉnh Đ (Có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Phạm Trần Hồng A, sinh năm 1991.

Địa chỉ: A đường B, khu phố C, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/3/2017, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V có đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn P trình bày:

Vào ngày 02/10/2014 bà Phạm Trần Hồng A và Ngân hàng thương mại cổ phần V ký với nhau hợp đồng tín dụng số 20141002-500001-0069, theo hợp đồng đã ký kết thì Ngân hàng cho bà A vay số tiền là 30.450.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 2.92%/tháng, mục đích vay là tiêu dung cá nhân. Theo thỏa thuận thì bà A có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền 49.574.000 đồng trả dần trong thời hạn 36 tháng, mỗi tháng trả dần số tiền 1.378.000 đồng, tháng cuối cùng trả số tiền còn lại là 1.344.000 đồng, thanh toán vào ngày 02 hàng tháng bắt đầu thực hiện kể từ ngày 02/11/2014. Thực hiện hợp đồng bà A đã nhận đủ số tiền vay từ Ngân hàng và thanh toán cho Ngân hàng được 07 lần với tổng số tiền là 9.646.000 đồng và ngưng không thực hiện kể từ ngày 28/5/2015 cho đến nay, Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở, nhưng bà A vẫn không thực hiện; vì vậy Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:

Buộc bà Phạm Trần Hồng A phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ còn thiếu chưa thanh toán là 26.705.813 đồng, Ngân hàng không yêu cầu tính thêm lãi suất.

Bị đơn bà Phạm Trần Hồng A: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức đã tiến hành triệu tập bà A đến tòa để giải quyết việc kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V nhưng bà A không đến; Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bà A theo quy định của pháp luật, nhưng bà A vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do, nên mở phiên tòa xét xử vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm có: Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20141002-500001-0069 ngày 02/10/2014; phê duyệt của VPBANk ngày 02/4/2014; Điều khoản và điều kiện dành cho khác hàng vay tiêu dung cá nhân, mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ; sổ hộ khẩu, chứng minh Nhân dân của bà A; giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần V– chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh; giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần Ngân hàng thương mại cổ phần V; điều lệ ngân hàng thương mại cổ phần V (VPBANK); công văn số 5848 ngày 04/8/2015; văn bản ủy quyền số 06/2017/UQ-CT ngày 08/02/2017; văn bản ủy quyền số 13/UQTT-QTRR.17 ngày 28/3/2017; chứng minh Nhân dân của ông P.

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh; các nội dung đương sự đã thỏa thuận thống nhất được và không thống nhất được do bà A vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án, cũng như làm rỏ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 04/5/2017 của Công an phường L, quận T; thể hiện bị đơn bà Phạm Trần Hồng A, sinh năm 1991 có đăng ký thường trú tại địa chỉ số A đường B, khu phố C, phường L, quận T, TP. Hồ Chí Minh; đi đâu không rõ từ năm 2012 cho đến nay; bà A thay đổi nơi cư trú, mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới; nên thẩm quyền giải quyết vụ án này theo trình tự thủ tục sơ thẩm là Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; được pháp luật quy định tại được pháp luật quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được hướng dẫn cụ thể tại Điểm a Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao.

2. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 29/3/2017 và tài liệu, chứng cứ kèm theo của Ngân hàng thương mại cổ phần V, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về hợp đồng dân sự về hợp đồng vay tài sản được pháp luật quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005.

3. Về thủ tục tố tụng:

3.1. Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V ủy quyền cho ông Nguyễn Văn P tham gia tố tụng và được Tòa án chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; tại phiên tòa ông P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

3.2. Bị đơn bà Phạm Trần Hồng A, sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án số 188/TB-TLVA ngày 28/4/2017 cho bà A nhưng hết thời hạn được quy định tại Điều 174 và Điều 175 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bà A không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tòa án tiếp tục triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà A vào các ngày 06/7/2017 và 01/8/2017, nhưng bà A vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do chính đáng; Tòa án tiến hành lập biên bản về phiên họp kiểm trả việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ mà không hòa giải và thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ cho bà A biết theo quy định tại Khoản 1 Điều 207, Khoản 2 Điều 208 và Khoản 3 Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đồng thời triệu tập bà A tham gia phiên tòa vào lúc 8 giờ 00 phút, ngày 30/8/2017 nhưng bà A vẫn không đến tòa tham gia xét xử vụ án. Hội đồng xét xử sau khi thảo luận quyết định hoãn phiên tòa và mở lại phiên tòa vào ngày hôm nay (22/9/2017), nhưng bà A vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do chính đáng (bà A không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt); nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà A là phù hợp, được pháp luật quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 233 và Điều 335 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

4. Về yêu vầu của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20141002-50000-0069 ngày 02/10/2014 có nội dung: Bà A yêu cầu khoản vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với bà A là 30.000.000 đồng. Căn cứ vào phê duyệt của VPBANK có nội dung: Số tiền vay được phê duyệt là 30.450.000 đồng (trong đó khoản vay tiêu dùng 29.000.000 đồng, phí bảo hiểm 1.450.000 đồng); thời hạn vay 36 tháng từ ngày 02/10/2014; khoản trả hàng tháng 1.378.000 đồng; lãi suất vay 35.00%/năm. Như vậy, việc vay nợ giữa Ngân hàng và bà A là có thật, các thỏa thuận của đương sự không trái, pháp luật đạo đức xã hội.

Sau khi vay bà A đã thanh toán cho Ngân hàng được 07 lần với tổng số tiền là 9.646.000 đồng và ngưng không thực hiện cho đến nay. Do đó lỗi vi phạp hợp đồng vay thuộc về bà A, kéo dài thời gian trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Căn cứ vào các Điều 471 và Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 thì việc đòi nợ của Ngân hàng là có căn cứ.

Từ những nhận định và phân tích nêu trên. Hội đồng xét xử, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: 1.335.290 đồng bà A phải chịu; Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 305, Điều 471và Điều 476 của Bộ Luật Dân sự năm 2005.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V

Buộc bà Phạm Trần Hồng A phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền là 26.705.813 (Hai mươi sáu triệu bảy trăm lẽ năm nghìn tám trăm mười ba) đồng.

Kể từ ngày bản án, có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 1.335.290 (Một triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn hai trăm chín mươi) đồng bà Phạm Trần Hồng A phải chịu; hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 667.645 (Sáu trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi lăm) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0015255 ngày 27/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

3.1. Quyền kháng cáo, Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Phạm Trần Hồng A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

3.2. Quyền kháng nghị, Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

4. Quyền yêu cầu Thi hành án: “Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ