vanban.org

Bản án 424/2020/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 28/07/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Triệu Sỹ K. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Triệu Sỹ K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Triệu Sỹ K: Tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/8/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Sỹ K - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Triệu Sỹ K. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 424/2020/HS-PT
Ngày: 28-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh

Các thẩm phán:

Ông Trần Xuân Minh

Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Lê Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên Tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 và 28 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 371/2019/TLPT-HS ngày 15 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Triệu Sỹ K.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 182/2019/HS-ST ngày 06/6/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Triệu Sỹ K, sinh năm 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu X và bà Bành M; bị cáo có vợ tên Lý Ngọc L, sinh năm 1989 và có 02 con (lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2001); tiền sự không;

Tiền án: Ngày 20/3/2009 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành hình phạt tù tại trại giam Thủ Đức, ra trại ngày 04/11/2013.

N thân: Ngày 18/6/2016, Công an quận Phú Nhuận bắt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tạm giữ 09 ngày trả tự do, chuyển hồ sơ Công an quận Bình Thạnh điều tra xử lý. Ngày 10/11/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh đã khởi tố vụ án và khởi tố bị can về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị tạm giữ, tạm giam ngày 30/8/2016 đến nay.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Quang V, Công ty Luật TNHH Đại Việt, Đoàn luật sư Tp. Hồ Chí Minh. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Anh Kh (Bé Tám), sinh ngày 29/11/1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; nơi cư trú: Thành phố Hồ Chí Minh, đã bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm e khoản 4, khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự với mức hình phạt là tù chung thân; Bản án hình sự phúc thẩm số 81/2019/HS-PT ngày 06/3/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 305/2019/HS-ST ngày 12/9/20198 và Quyết định thi hành án số 248/2019/QĐ-CA ngày 29/3/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2017 đang chấp hành án tại Trại Giam Long Hòa, Long An. (Có mặt)

- Người làm chứng: Lưu Trọng N, sinh năm 1991; (vắng mặt)

Địa chỉ: Tp. Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Tp. Hồ Chí Minh.

Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lý Ngọc L nhưng không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 30/8/2016, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an Phường 5, Quận 8 kiểm tra phòng 402 khách sạn Felix (số 908 Tạ Quang Bửu, Phường 5, Quận 8) phát hiện bắt quả tang Triệu Sỹ K đang ở trong phòng cùng 04 gói nylon chứa tinh thể màu trắng. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 394,9356gram, loại Ketamine (Kết luận giám định số: 1663/KLGĐ-H ngày 31/10/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh).

Quá trình điều tra, Triệu Sỹ K khai nhận, được bạn bè ngoài xã hội giới thiệu để đối tượng tên Quốc (không xác định được lai lịch) điện thoại chào bán ma túy loại Ketamine cho K mua bán kiếm lời. Khoảng đầu tháng 8/2016, khi nhận được cuộc gọi từ một người đàn ông xưng tên Quốc chào bán Ketamine, K đặt mua một lạng, thỏa thuận giá 20 triệu đồng và hẹn địa điểm để thực hiện giao nhận ma túy và thanh toán tiền tại ngã ba Nguyễn Chí Thanh – Nguyễn Thị Nhỏ. Tại điểm hẹn, K đưa trước cho Quốc 15 triệu đồng thì Quốc nói đến lầu 3 khách sạn Felix (số 908 Tạ Quang Bửu, Phường 5, Quận 8) sẽ có người giao hàng. Khi đến lầu 3 khách sạn Felix, K được một người phụ nữ tên Yến (chưa rõ lai lịch) dẫn vào phòng 302. Tại đây, Yến cho biết không có hàng rồi đưa cho K một “chấm” Ketamine để dùng thử và trả lại K 15 triệu đồng. K đã bán một chấm ma túy đó cho một người tên Loan (chưa rõ lai lịch) giá 500.000 đồng.

Ngày 26/8/2016, Quốc điện thoại cho K hỏi “cần ăn cơm không” (tiếng lóng hiểu là “có lấy Ketamine không”), K đặt mua nửa lạng ma túy thì Quốc cho biết chỉ bán một lạng giá 32 triệu đồng, K đồng ý mua một lạng và thỏa thuận địa điểm giao nhận ma túy và thanh toán tiền tại ngã ba Nguyễn Chí Thanh – Nguyễn Thị Nhỏ. Tại điểm hẹn, khi nhận 30 triệu đồng của K, Quốc nói 2 – 3 ngày nữa mới có hàng. Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 29/8/2016, Quốc điện thoại cho K báo rạng sáng 30/8/2016 đến lầu 4 khách sạn Felix sẽ có người giao hàng.

Khoảng 02 giờ, ngày 30/8/2016, K đến khách sạn Felix đi thang máy lên lầu 4. Khi cửa thang máy vừa mở, một người đàn ông bước vào nói “Có phải anh K không, tới kỳ đóng hụi chết rồi”. Nhận ra ám hiệu mà Quốc cho biết trước đó, K hỏi lại “bên anh Quốc hả”. Nhận ra nhau, người thanh niên giới thiệu tên Thanh (chưa rõ lai lịch) và bảo K đến phòng 402 lấy hàng, mua bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu. K đưa cho Thanh 02 triệu đồng rồi mở cửa thang máy bước ra, còn Thanh vẫn ở lại trong thang máy. K đến phòng 402, thấy cửa phòng khép hờ nên đẩy cửa bước vào. K vào phòng thấy có 04 gói ma túy để trên bàn và 02 người đàn ông ngồi tại bàn nói chuyện với nhau, nên K đến ngồi ở giường. Khoảng 03 phút sau, khi hai người đàn ông vừa rời khỏi phòng, bạn gái của K là Phan Huỳnh Thúy Nga đến phòng 402 theo lời mời của K rủ đến để đi chơi. Ngay sau đó, qua điện thoại biết K đang ở phòng 402, Trần Anh Kh đến phòng 402 hỏi K số tiền nợ 30 triệu đồng khi nào trả rồi đi ngay. Kh vừa đi khỏi thì bạn ngoài xã hội Nguyễn Hữu Cường (Thường trú: thôn Miêu Nha, xã Phúc Thành, huyện K Môn, tỉnh Hải Dương) đến phòng 402. K lấy ma túy Ketamine để trên bàn sử dụng còn Cường sử dụng ma túy đá có sẵn trong nỏ bình sử dụng ma túy đá để trên bàn. Khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc K đang sử dụng ma túy, thì Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an Phường 5, Quận 8 đến kiểm tra phòng 402 phát hiện bắt giữ K và thu giữ 04 gói ma túy như đã nêu trên.

K khai sau khi trả tiền mua 01 lạng Ketamine cho Quốc thì đến phòng 402 khách sạn Felix để tự lấy 01 lạng Ketamine khi cửa phòng không đóng, lời khai là không có cơ sở: bởi vì, khi bị bắt quả tang chỉ có K cùng với số ma túy bị thu giữ trong phòng; ngoài ra, căn cứ vào lời khai của Trần Anh Kh, Phan Huỳnh Thúy Nga, Nguyễn Hữu Cường, Lưu Trọng N (lễ tân khách sạn Felix) xác định K đã ở tại phòng 402 trong thời gian dài, khi bị bắt đang ngồi tại bàn thử ma túy do đó phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ 394,9356g Ketamine trong 04 gói nylon để trên bàn bị thu giữ.

Kết quả điều tra xác định Trần Anh Kh nhờ bạn là Nguyễn Hữu Phước (Thường trú: 57 ấp Phú Tự, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre) thuê phòng 402 khách sạn Felix để ở từ ngày 28/8/2016. Chiều ngày 29/8/2016, Kh thuê thêm phòng 410 ở đến tối thì về nhà rồi sau đó trở lại phòng 402 thì thấy K ở trong phòng nhưng không vào phòng mà đi qua phòng 410. Không có căn cứ xác định Kh, Phước liên quan đến số ma túy trong phòng 402 bị thu giữ. Ngày 31/8/2016, Phước bị Công an huyện Bình Chánh bắt khẩn cấp về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” còn Kh cũng bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy bắt ngày 11/4/2017 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” hiện đang điều tra trong vụ án khác.

Vật chứng thu giữ:

- 04 gói nylon chứa tinh thể màu trắng: Giám định có khối lượng 394,9356g là ma túy loại Ketamine.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng.

- 01 roi điện hiệu Jing Shan Jiao.

- 01 bình nhựa sử dụng ma túy.

- 01 xe gắn máy nhãn hiệu PIAGGGIO (Vespa), biển số 59M1-591.21, số khung RP8M66600DV 001253, số máy M66AM 5001585.

- 1.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 236/CTr-VKS-P1, ngày 06/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định truy tố bị cáo Triệu Sỹ K về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm e khoản 4 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 182/2019/HS-ST ngày 06/6/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Triệu Sỹ K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng điểm e khoản 4, khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Triệu Sỹ K: Tù Chung Thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/8/2016.

Xử phạt bị cáo Triệu Sỹ K: 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/6/2019, bị cáo Triệu Sỹ K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vị phạm tội mua bán trái phép chất ma túy như án sơ thẩm quy kết, nhưng bị cáo cho rằng chỉ thỏa thuận mua của của đối tượng tên Quốc 100g ma túy loại Ketamine, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo phải chịu trách nhiệm thêm 300g ma túy là không đúng, bị cáo xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo. Đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai thêm tình tiết mới cho rằng thực chất người bán ma túy cho bị cáo là Trần Anh Kh, đối tượng tên Quốc chính là người của Kh. Tại phòng 402 khách sạn Felix thì Kh đến đòi bị cáo 30.000.000 đồng là tiền bị cáo mua thiếu 01 lạng ma túy của Kh trước đó.

Trần Anh Kh không thừa nhận những lời trình bày trên của bị cáo K mà cho rằng phòng 402 khách sạn Felix là Phước thuê và lấy tên của Kh, thực tế Kh thuê phòng 410 để ở và sử dụng ma túy cùng bạn. Tại phòng 402 Kh gặp K là để đòi nợ 30.000.000 đồng mà K nhờ Kh vay dùm trước đó, không phải là tiền bán ma túy. Kh không liên quan gì đến số ma túy tại phòng 402.

Đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phát biểu: Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng; Hành vi của bị cáo mua của ma túy của Quốc để sử dụng và bán lại cho các con nghiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo cho rằng chỉ mua của Quốc 100g ma túy ketamin là không chính xác vì đây chỉ là lời khai của bị cáo, khi bị bắt quả tang thì chỉ có bị cáo cùng 04 gói ma túy. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về 04 gói ma túy này. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cho rằng mua ma túy của Kh nhưng không có căn cứ chứng minh và bị cáo không xuất trình được thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu:

Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ, tuy nhiên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về khối lượng ma túy 394,9356g Ketamine là không chính xác vì bị cáo chỉ thỏa thuận mua 100g. Do vậy, mức án tù chung thân đối với bị cáo là quá nặng. Ngoài ra, cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết là phòng 402 khách sạn Felix không phải bị cáo thuê mà là do Kh thuê, thẻ từ do Kh giữ và vào lúc 01 sáng ngày 30/8/2016 thì Kh lại có mặt tại phòng 402, vấn đề này cần được làm rõ. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xét hoàn cảnh của bị cáo là trong quá trình bị cáo bị tạm giam thì cha bị cáo đã chết, mẹ bị cáo 66 tuổi không ai chăm sóc, vì vậy đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vì mục đích tư lợi nên bị cáo Triệu Sỹ K đã nhiều lần điện thoại cho đối tượng tên Quốc để thỏa thuận mua ma túy của Quốc loại Ketamine nhằm bán lại kiếm lời. Vào lúc 03 giờ 30 phút, ngày 30/8/2016, tại phòng 402 khách sạn Felix, địa chỉ số 908 Tạ Quang Bửu, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh khi bị cáo Triệu Sỹ K đang cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời thì bị bắt quả tang, cơ quan điều tra thu giữ tại phòng 402 của khách san Felix khối lượng ma túy 394,9356g loại Ketamine.

Quá trình điều tra, xét xử bị cáo khai nhận diễn biến hành vi phạm tội như nêu trên và thừa nhận chính bị cáo là người trực tiếp điện thoại cho Quốc nhiều lần để thỏa thuận mua ma túy loại Ketamine. Mặc dù bị cáo chỉ thừa nhận là thỏa thuận mua của Quốc 100g ma túy loại Ketamine thì đây chỉ là lời khai của bị cáo mà không có chứng cứ nào khác trong hồ sơ chứng minh lời khai này là đúng, ngoài ra căn cứ vào lời khai của Trần Anh Kh, Phan Huỳnh Thúy Nga, Nguyễn Hữu Cường và Lưu Trọng N xác định bị cáo K đã ở trong phòng 402 một thời gian dài (từ 02 giờ đến 3 giờ 30 phút) và khi bị bắt quả tang thì chỉ có một mình bị cáo quản lý 04 gói nylon ma túy ketamine có trọng lượng 394,9356g. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo mua của Quốc số ma túy trên để bán lại kiếm lời.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ngoài ra còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội, làm gia tăng tệ nạn ma túy. Do khối lượng ma túy bị cáo mua bán là 394,9356g Ketamine nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “các chất ma túy ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên” theo điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng bị cáo đã có 01 tiền án cùng về tội mua bán trái phép chất ma túy, đã có một thời gian dài sống trong trại cải tạo dưới sự quản lý, giáo dục của Nhà nước nhưng bị cáo không rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Hiện nay bị cáo còn đang bị khởi tố, điều tra về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, chứng tỏ bị cáo là kẻ khó giáo dục, cải tạo, coi thường pháp luật. Bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ, có 01 tình tiết tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án tù chung thân là phù hợp không nặng. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đối với tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo K cho rằng trước ngày 30/8/2016 đã mua của Kh 100g ma túy loại Ketamine và còn nợ Kh 30.000.000 đồng và thực tế số ma túy bị bắt qua tang ngày 30/8/2016 cũng là mua của Kh và Đối tượng tên Quốc là người của Kh. Xét lời khai này của bị cáo K là có cơ sở vì sau khi thỏa thuận mua ma túy từ Quốc thì Quốc nói khuya ngày 29/8/2016 đến phòng 402 khách sạn Felix đề nhận ma túy, điều này phù hợp với lời khai của anh Lưu Trọng N (N viên lễ tân khách sạn) xác định bị cáo K đến khách sạn lúc 23 giờ 30 phút ngày 29/8/2016 và xin phép lên phòng 402 gặp Kh. Căn cứ vào lời khai của Kh, Phước và sổ lưu trú của khách sạn thể hiện Kh thuê phòng 402 từ ngày 28/8/2016 và đến ngày 29/8/2016 Kh thuê tiếp phòng 410. Chính lời khai của Kh xác định tại phiên tòa hôm nay và trong quá trình điều tra khai nhận thuê phòng 402 để ở và sử dụng ma túy đá và trên thực tế khi bị cáo K đến phòng 402, sau đó gọi Cường đến để cùng sử dụng ma túy thì Cường đến và đã thấy sẵn một bình hút ma túy đá có sẵn ma túy trong đó, còn K thì sử dụng ma túy loại Ketamine. Tổng hợp, đánh giá các chứng cứ trên, có cơ sở xác định Trần Anh Kh (Bé Tám) có liên quan đến số ma túy 394,9356g loại ketamine tại phòng 402 khách san Felix, vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Tp. Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của Trần Anh Kh để tránh bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.

Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Triệu Sỹ K. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Tuyên bố bị cáo Triệu Sỹ K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm e khoản 4, Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Triệu Sỹ K: Tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/8/2016.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Triệu Sỹ K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của Trần Anh Kh (Bé Tám) liên quan đến số ma túy 394,9356g loại ketamine tại phòng 402 khách sạn Felix, địa chỉ số 908 Tạ Quang Bửu, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ