- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Tiền N đối với anh Phan Tấn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 423/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13- 9 - 2023 V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Tám
2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên sơ cấp
Trong ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 184/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “ Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 259/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023 và Quyết định Hoãn phiên toà số 210/2023/QĐST -DS, ngày 24 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Huỳnh Thị Tiền N, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: tổ A, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Số điện thoại: xxxx.xxx.xxx;
2. Bị đơn: anh Phan Tấn T, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: số D, tổ A, khóm P, TT C, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: xxxx.xxx.xxx – xxxx.xxx.xxx
(chị N xin vắng mặt, anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Tiền N trình bày: Chị và anh Phan Tấn T do mai mối được hai bên gia đình đồng ý, có tổ chức lễ cưới năm 2007 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 151/2007, ngày 15 tháng 9 năm 2007.
Sau khi cưới thì vợ chồng sống chung ở gia đình anh T, vợ chồng sống bằng nghề buôn bán, thời gian đầu thì cuộc sống hôn nhân bình thường, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về chuyện tiền bạc do anh T tiêu xài phung phí vào cờ bạc, cá độ bóng đá không lo cho vợ con. Sau khi sinh con tên Phan Thị Huỳnh T1 thì vợ chồng chuyển đến sống ở gia đình chị, thời gian đó vợ chồng nhiều lần cùng lên Thành phố Hồ Chí Minh để làm thuê sinh sống nhưng anh T cứ cờ bạc gây nợ, nhiều lần chị và gia đình anh T phải đứng ra trả nợ thay, chị đã khuyên ngăn anh T rất nhiều lần nhưng không được. Đến tháng 4/2023 thì anh T lén lút lấy tiền của chị đi cờ bạc nên vợ chồng mâu thuẫn cãi nhau, từ đó vợ chồng ly thân đến nay.
Quá trình ly thân anh T không có ý chí muốn hàn gắn tình cảm, gia đình chị cũng không muốn hàn gắn vợ chồng, anh T cũng không đến thăm các con. Nay tình cảm không còn, nên yêu cầu ly hôn với anh Phan Tấn T.
- Về nuôi con chung: có 02 con chung tên Phan Thị Huỳnh T1, sinh ngày 06/7/2009 và Phan Thị Như Ý, sinh ngày 12/10/2014, hiện chị đang nuôi dưỡng hai con. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.
Về tài sản và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
* Anh Phan Tấn T vắng mặt từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên anh T vắng mặt suốt quá trình tố tụng là chấp hành pháp luật chưa nghiêm, anh cũng được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, chị N có đơn xin vắng mặt và có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt anh T và chị N theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Hôn nhân của anh, chị do mai mối, được cha mẹ chấp thuận, tổ chức lễ cưới năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân T, huyện P, tỉnh An Giang, thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó vợ chồng cùng đi làm công nhân ở TP HCM được một thời gian, anh T thường xuyên cờ bạc, gây túng thiếu tiền bạc trong sinh hoạt, thiếu trách nhiệm trong việc chăm sóc gia đình, thậm chí lấy tiền của N đi cờ bạc vợ chồng ly thân, sau khi ly thân anh T không liên lạc tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị N yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của anh Trần Văn C (thành viên ban tự quản khóm P, TT C), đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét chấp nhận.
- Về con chung: có 02 con chung tên Phan Thị Huỳnh T1, sinh ngày 06/7/2009 và Phan Thị Như Ý, sinh ngày 12/10/2014, hiện chị N đang nuôi dưỡng hai con. Nay ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, cháu T1 và cháu Ý có nguyện vọng sống với chị N, hai cháu cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, do đó đề nghị HĐXX giao 02 cháu cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng cho con cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết
Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn chị Huỳnh Thị Tiền N yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình; bị đơn anh Phan Tấn T đã được tống đạt các văn bản tố tụng cũng như triệu tập lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt, việc vắng mặt của anh, chị không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.
Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay anh T cư trú tại: khóm P, TT C, huyện P, tỉnh An Giang, nên chị N khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: chị N xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con, nên quan hệ tranh chấp là “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khỏan 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị do mai mối, được cha mẹ đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân T, huyện P, tỉnh An Giang, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do hai người bất đồng ý kiến trong tiền bạc sinh hoạt hàng ngày, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh T cờ bạc gây nợ nần, thiếu trách nhiệm chăm sóc gia đình, thậm chí còn lấy tiền của chị N đi cờ bạc từ đó vợ chồng ly thân, sau khi ly thân anh T không liên lạc tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, làm cho tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị N yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của anh Trần Văn C (thành viên ban tự quản khóm P, TT C), để anh chị có cuộc sống riêng sau này, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
- Về con chung: có 02 con chung tên Phan Thị Huỳnh T1, sinh ngày 06/7/2009 và Phan Thị Như Ý, sinh ngày 12/10/2014, hiện chị N đang nuôi dưỡng hai con. Nay ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, cháu T1 và cháu Ý có nguyện vọng sống với chị N, hai cháu cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, do đó HĐXX giao 02 cháu cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh T không phải cấp dưỡng cho con cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về quan hệ tài sản chung: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Ghi nhận chị N khai không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh T, chị N phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.
Về án phí: chị Huỳnh Thị Tiền N là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 56 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
- Căn cứ Điều 26, khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Tiền N đối với anh Phan Tấn T.
- Về hôn nhân: chị Huỳnh Thị Tiền N được ly hôn với anh Phan Tấn T.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 151/2007 ngày 15 tháng 9 năm 2007 của Ủy ban nhân dân T, huyện P, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực.
- Về con chung: Tiếp tục giao 02 con chung tên Phan Thị Huỳnh T1, sinh ngày 06/7/2009 và Phan Thị Như Ý, sinh ngày 12/10/2014 cho chị Huỳnh Thị Tiền N nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh Phan Tấn T không phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Huỳnh Thị Tiền N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006201 ngày 01/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, anh Phan Tấn T không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS H. Phú Tân; - UBND thị trấn Chợ Vàm, H.Phú Tân tỉnh An Giang; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Chiến |