vanban.org

Bản án 423/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.

Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị C được quyền ly hôn với ông Lê Văn H. Về con chung: Giao cháu Lê Gia B, sinh ngày 18/6/2009, cháu Lê Quốc K, sinh ngày 10/12/2010, cháu Lê Thị Phương D, sinh ngày 01/6/2014 cho ông Lê Văn H là người trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Khánh Đ, sinh ngày 20/5/2019 cho bà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HNGĐST CẨM- HƠN"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 423/2021/HNGĐ-ST
Ngày 27/10/2021
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bền.

2. Ông Nguyễn Đức Duy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Dũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Trà My – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1991 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã NB, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm: 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã NB, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 01/02/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà và ông Lê Văn H chung sống với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nhị Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang vào ngày 04/3/2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do ông H thường hay ghen, hành hung bà C dẫn đến vợ chồng bất hòa, cãi vã, vợ chồng đã cố hàn gắn nhưng không được nên ông bà đã ly thân từ đó đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Cho bà ly hôn với ông H.

- Về con chung: Có 04 con tên Lê Gia B, sinh ngày 18/6/2009, Lê Quốc K, sinh ngày 10/12/2010, Lê Thị Phương D, sinh ngày 01/6/2014 và Lê Khánh Đ, sinh ngày 20/5/2019. Khi ly hôn, bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ, ông H tiếp tục nuôi dưỡng cháu B, cháu K và cháu D, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Ông Lê Văn H vắng mặt dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, ông H cũng vắng mặt, bà C có đơn xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng. Về nội dung: Do bà C, ông H có mâu thuẫn kéo dài, ly thân từ đầu năm 2020 mà không có biện pháp hàn gắn tình cảm, đồng thời trong suốt quá trình tố tụng ông H cũng vắng mặt chứng tỏ ông không có ý hàn gắn với bà C, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà C ly hôn với ông H. Về con chung: Do cháu B, cháu K và cháu D được ông H nuôi dưỡng, cháu Đ được bà C nuôi dưỡng sau khi ông bà ly thân, đồng thời theo bản tự khai thì nguyện vọng của cháu B, cháu K và cháu D là được sống với ông H, còn cháu Đ là con dưới 36 tháng tuổi nên cần giao cháu B, cháu K và cháu D cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Đ cho bà C tiếp tục nuôi dưỡng, tránh làm xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển tâm sinh lý của các cháu. Tại phiên tòa, bà C, ông H đều vắng mặt và theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì không có ai yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Thị C khởi kiện ông Lê Văn H yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà C và ông H là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Ông Lê Văn H vắng mặt dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bà Nguyễn Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông, bà theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy, bà Nguyễn Thị C và ông Lê Văn H sống chung năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nhị Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang vào ngày 04/3/2009 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 39, như vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình sống chung hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do ông H thường hay ghen, hành hung bà C dẫn đến vợ chồng bất hòa, cãi vã. Bà C yêu cầu được ly hôn, ông H vắng mặt nên không có ý kiến về vấn đề này. Nhận thấy, bà Nguyễn Thị C và ông Lê Văn H có phát sinh mâu thuẫn kéo dài, sống ly thân từ đầu năm 2020. Trong thời gian ly thân, ông bà không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm, đồng thời trong suốt quá trình tố tụng ông H cũng vắng mặt chứng tỏ ông không có ý hàn gắn với bà C. Do mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà C được quyền ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 04 con tên Lê Gia B, sinh ngày 18/6/2009, Lê Quốc K, sinh ngày 10/12/2010, Lê Thị Phương D, sinh ngày 01/6/2014 và Lê Khánh Đ, sinh ngày 20/5/2019. Khi ly hôn, bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ, ông H tiếp tục nuôi dưỡng cháu B, cháu K và cháu D, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu B, cháu K và cháu D do ông H trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Đ do bà C trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ông bà ly thân, đồng thời theo bản tự khai thì nguyện vọng của cháu B, cháu K và cháu D là được sống với ông H, còn cháu Đ là con dưới 36 tháng tuổi nên cần giao cháu B, cháu K và cháu D cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Đ cho bà C tiếp tục nuôi dưỡng, tránh làm xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển tâm sinh lý của các cháu. Bà C xin vắng mặt nhưng theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì bà yêu cầu không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời ông H vắng mặt, không có ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Từ phân tích trên, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.

1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị C được quyền ly hôn với ông Lê Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Gia B, sinh ngày 18/6/2009, cháu Lê Quốc K, sinh ngày 10/12/2010, cháu Lê Thị Phương D, sinh ngày 01/6/2014 cho ông Lê Văn H là người trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Khánh Đ, sinh ngày 20/5/2019 cho bà Nguyễn Thị C là người trực tiếp nuôi dưỡng. Bà C và ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị C phải chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0003979 ngày 01/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong.

Bà C và ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ