- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Văn C - Cao Văn T"
- Tòa quyết gì? Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Cao Văn T và bà Tô Thị C1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 300.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NAM
Bản án số: 422/2026/DS-PT
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ngày: 18 - 06 - 2026
V/v “Tranh chấp hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân Các Thẩm phán: Ông Bùi Anh Tuấn Bà Tăng Trần Quỳnh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khoa là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 197/2026/TLPT-DS ngày 07 tháng 5 năm 2026 về việc “Tranh chấp hụi”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 129/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 342/2026/QĐXX-PT ngày 19 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1969; Số CCCD: 096069010304; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Ông Cao Văn T, sinh năm: 1961; CCCD số: 096061002593; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tô Thị C1, sinh năm: 1962; CCCD số: 096162002257; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo trình bày của nguyên đơn: Vợ chồng ông Cao Văn T, bà Tô Thị C1 (tên trong danh sách hụi là Tỏa em) có tham gia chơi 07 dây hụi do ông C làm chủ hụi cụ thể như sau:
- Dây hụi mở ngày 15/10/2020, loại hụi 2.000.000 đồng, có 24 chân, mỗi tháng mở hốt một lần. Vợ chồng ông Cao Văn T, bà Tô Thị C1 tham gia 03 chân, đã hốt còn nợ 06 lần chưa đóng, số tiền là 12.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 30/12/2020, loại hụi 2.000.000 đồng, có 25 chân, mỗi tháng mở hốt một lần. Vợ chồng ông Cao Văn T, bà Tô Thị C1 tham gia 01 chân, đã hốt còn nợ 04 lần chưa đóng, số tiền là 8.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 25/6/2021, loại hụi 2.000.000 đồng, có 20 chân, mỗi tháng mở hốt một lần. Vợ chồng ông Cao Văn T, bà Tô Thị C1 tham gia 01 chân, đã hốt còn nợ 06 lần chưa đóng, số tiền là 12.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 20/3/2021, loại hụi 1.000.000 đồng, có 24 chân, mỗi tháng mở hốt một lần. Vợ chồng ông Cao Văn T, bà Tô Thị C1 tham gia 01 chân, đã hốt còn nợ 08 lần chưa đóng, số tiền là 8.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 30/8/2021, loại hụi 1.000.000 đồng, có 21 chân, mỗi tháng mở hốt một lần. Vợ chồng ông Cao Văn T, bà Tô Thị C1 tham gia 01 chân, đã hốt còn nợ 09 lần chưa đóng, số tiền là 9.000.000 đồng. Hiện nay tất cả các dây hụi đã mãn, ông T, bà C1 còn nợ tổng số tiền là 49.000.000 đồng. Ông T, bà C1 có trả được 03 lần, tổng số tiền 11.000.000 đồng, còn nợ lại 38.000.000 đồng chưa trả. Do tiền hốt hụi được sử dụng vào sinh hoạt chung trong gia đình của ông T, bà C1 nên ông C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Cao Văn T và bà Tô Thị C1 (vợ ông T) có trách nhiệm liên đới trả cho ông C số tiền nợ hụi là 38.000.000 đồng. Đối với bị đơn là ông Cao Văn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Tô Thị C1 đã được Toà án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng không đến Toà án theo giấy triệu tập và cũng không gửi cho Toà án văn bản ý kiến của mình. Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 129/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau, quyết định: Áp dụng các Điều 357, 468, 471 Bộ luật Dân sự; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C đối với ông Cao Văn T và bà Tô Thị C1. Buộc ông Cao Văn T và bà Tô Thị C1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguyễn Văn C số tiền nợ hụi là 4.500.000 đồng. Không chấp nhận khởi kiện của ông Nguyễn Văn C yêu cầu buộc ông Cao Văn T và bà Tô Thị C1 liên đới trả cho ông Nguyễn Văn C số tiền nợ hụi là 33.500.000 đồng. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về lãi suất chậm thi hành, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 14/4/2026, ông Nguyễn Văn C kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm; buộc ông Cao Văn T, bà Tô Thị C1 trả cho ông số tiền hụi còn nợ là 38.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Đề nghị cấp phúc thẩm buộc ông Cao Văn T và bà Tô Thị C1 liên đới trả tổng số tiền hụi còn nợ là 38.000.000 đồng. Bị đơn ông Cao Văn T và người liên quan bà Tô Thị C1 không đồng ý kháng cáo của nguyên đơn. Ông T, bà Chính xác Đ chỉ còn nợ tiền hụi của ông C số tiền 4.500.000 đồng, đồng ý trả nợ như án sơ thẩm đã xử. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng quy định của pháp luật tố tụng; các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 129/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy: [1] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, ông C xác định ông Cao Văn T và bà Tô Thị C1 có tham gia 07 dây hụi do ông làm chủ, đã hốt hết các chân hụi, nhưng còn nợ lại tiền hụi chết là 49.000.000 đồng, có trả 03 lần với tổng số tiền 11.000.000 đồng, còn nợ lại 38.000.000 đồng. Nội dung yêu cầu này không được ông T, bà C1 thừa nhận tại phiên toà phúc thẩm. Ông C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cụ thể số tiền hụi chết còn nợ của từng dây hụi. Các tài liệu do ông C cung cấp chủ yếu là các ghi chép do ông tự lập để theo dõi việc chơi hụi, không có xác nhận của ông T, bà C1 hoặc tài liệu khác chứng minh số tiền còn nợ như ông trình bày. [2] Tại phiên toà phúc thẩm, Ông T và bà C1 thừa nhận có tham gia chơi hụi và đã nộp hụi còn nợ lại ông C số tiền 4.500.000 đồng như án sơ thẩm đã xử. Tại Biên bản hòa giải ngày 21/11/2025 trong vụ án dân sự thụ lý số 191/2025/TLST-DS ngày 14/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau giữa ông C với ông T, bà C1 thể hiện: Bà Tô Thị C1 xác định bà có tham gia các dây hụi như ông C trình bày, đồng thời thừa nhận bà và ông T còn nợ lại ông C tiền hụi chết là 4.500.000 đồng và đồng ý thanh toán khoản tiền này. Xét sự thừa nhận của ông T và bà C1 tại phiên toà phúc thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định ông T và bà C1 còn nợ ông C số tiền hụi 4.500.000 đồng như án sơ thẩm đã xử là phù hợp. [3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng ông Nguyễn Văn C kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông C, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử đối với các đương sự. [4] Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 129/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau. 2. Áp dụng các Điều 357, 468, 471 Bộ luật dân sự; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C. Buộc ông Cao Văn T và bà Tô Thị C1 liên đới trả cho ông Nguyễn Văn C số tiền nợ hụi là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Kể từ ngày nguyên đơn ông Nguyễn Văn C có đơn yêu cầu thi hành án, bị đơn ông Cao Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tô Thị C1 không thi hành khoản tiền nêu trên thì ông Cao Văn T và bà Tô Thị C1 phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C về việc buộc ông Cao Văn T và bà Tô Thị C1 liên đới trả cho ông Nguyễn Văn C số tiền nợ hụi là 33.500.000 đồng (Ba mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng). 3. Căn cứ các điều 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Cao Văn T và bà Tô Thị C1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.675.000 đồng (Một triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), đã dự nộp tạm ứng án phí 950.000 đồng theo biên lai thu số 0006094, ngày 09/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được đối trừ; ông Nguyễn Văn C còn phải nộp tiếp số tiền là 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng; ngày 20/4/2026 ông C có dự nộp 300.000 đồng tại biên lại thu số 0004768 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu án phí. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 4 - Cà Mau; - TAND khu vực 4 - Cà Mau; - Phòng THADS khu vực 4 - Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; Lưu án văn; - Lưu VT (TM: TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trọng Nhân |