- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với các ị cáo Nguyễn Văn H, Võ Văn N, Nguyễn Ch T về tội “ Giết người” và Nguyễn á T2 về tội “Che dấu tội phạm”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 422/2021/HS-PT Ngày: 15 – 11- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Võ Ngọc Thông;
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Thanh Liêm;
Ông Lê Phước Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.
Vào ngày 15 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng B xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 349/2021/TLPT-HS ngày 01 tháng 6 năm 2021 đối với các ị cáo Nguyễn Văn H và các ị cáo khác về tội“Giết người”; “Che dấu tội phạm” và “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của các ị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng B đối với Bản án hình sự s thẩm số 21/2021/HS-ST ngày 27/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng B.
- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:
1. Nguyễn V n H, tên gọi khác: C, sinh ngày 13 8 1997; n i đăng ký H TT:, tỉnh uảng ình; giới t nh: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: inh; trình độ học vấn: 11 12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn H và à Lê Thị Q, v là H Thị H, có một con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: hông; ị t tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh uảng ình t ngày 16 6 2020 đến nay. Có mặt.
2. Nguyễn Ch T, tên gọi khác: L, sinh ngày 26 10 1992, n i Đ H TT: tỉnh uảng ình; giới t nh: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: inh; trình độ học vấn: 11 12; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Nguyễn Ch C và à Nguyễn Thị T, v là Ngô Thị Tú L, có một con sinh năm 2019; tiền án, tiền án: không; ị t tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh uảng ình t ngày 16 6 2020 đến nay. Có mặt.
3. V V n N, tên gọi khác: C, sinh ngày 21 9 1997, n i Đ H TT: tỉnh uảng ình; giới t nh: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: inh; trình độ học vấn: 9 12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Võ Văn C và à Nguyễn Thị ch H (đã chết), chưa có v con; tiền án, tiền án: không; ị t tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng ình t ngày 16 6 2020 đến nay. Có mặt.
4. Nguyễn Thanh T1, tên gọi khác: i, sinh ngày 01 6 1997, n i Đ H TT: tỉnh uảng ình; giới t nh: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: inh; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: hông có; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và à Dư ng Thị N; v con chưa có; tiền án: hông; tiền sự: ị Công an huyện ố Trạch ra uyết định xử phạt vi phạm hành ch nh số 64 Đ ngày 23 5 2016 vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, ị cáo chưa chấp hành; ị áp dụng iện pháp cấm đi kh i n i cư trú. Có mặt.
5. Nguyễn Đ, sinh ngày 03 3 1995, n i Đ H TT: tỉnh uảng ình; giới t nh: Nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: inh; trình độ học vấn: 12 12; nghề nghiệp: không có; con ông Nguyễn á Đ (đã chết và à H Thị L; v con chưa có; tiền án, tiền sự: không; ị áp dụng iện pháp cấm đi kh i n i cư trú. Có mặt.
6. Nguyễn C, sinh ngày 26 6 2002, n i Đ H TT: tỉnh uảng ình; giới t nh: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: inh; trình độ học vấn:12/12; nghề nghiệp: không có; con ông Nguyễn C và à Phạm Thị H; v con chưa có; tiền án, tiền sự: không; ị cáo ị áp dụng iện pháp cấm đi kh i n i cư trú. Có mặt.
7. Nguyễn T2, sinh ngày 25 9 1984, n i Đ H TT: tỉnh uảng ình; giới t nh: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: inh; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Thanh M (đã chết và à Đ Thị G; v là H Thị Thanh N; có hai con, con lớn sinh năm 2014, con nh sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; ị áp dụng iện pháp cấm đi kh i n i cư trú. Có mặt.
- Bị hại:
1. Phan Hoàng T3, sinh năm 1988; n i cư trú: tỉnh uảng ình. V ng mặt.
2. Nguyễn C, sinh năm 2002; n i cư trú: tỉnh uảng ình (đ ng th i là ị cáo trong vụ án . Có mặt.
3. Nguyễn Văn H, sinh năm 1997; n i cư trú: tỉnh uảng ình (đ ng th i là ị cáo trong vụ án . Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 gi ngày 11 6 2020, trong quá trình ăn nhậu tại xã L, huyện B, tỉnh Quảng B, Nguyễn Thanh T1 xảy ra mâu thuẫn với Nguyễn Văn H, để giải quyết mâu thuẫn, T1 và H hẹn nhau đến cầu N thuộc xã N, huyện B để giải quyết bằng cách đánh nhau.
Nguyễn Thanh T1 rủ Lư ng Văn B, Nguyễn C và Nguyễn Lư ng K, K gọi thêm Nguyễn á Đ, Phan Hoàng T, Trần Ngọc L, ùi Đức T, Nguyễn H và Nguyễn Minh P, tất cả đều trú tại xã N và T. Nguyễn á Đ chở Phan Hoàng T, trên đư ng đi Đ vào nhà của mình lấy một cây dao đang để ở gần hàng rào mang theo; Nguyễn Thanh T1 đi cùng Nguyễn C và Lư ng Văn B. Trên đư ng đi T1 vào nhà lấy một thanh kiếm đưa cho C cầm, Lư ng Văn B cầm một cây m a tư i, T1 cầm một gậy g bằng cây ạch đàn.
Nguyễn Văn H gọi điện cho Võ Văn N, Nguyễn Ch T và Nguyễn Kh c H2; H nh N và T về nhà H lấy một khẩu súng đưa đến cho H.
Đến khoảng 22h30’, ngày 11 6 2020 nhóm của Nguyễn Thanh T1 đến trước, T1 và C ng i ở giữa cầu N để đ i H; còn K, B cùng một số thanh niên do K gọi trước đó đi xuống dưới cầu gãy để vòng lên cầu ê tông hướng thôn Đ. Khoảng 5 phút sau, N và T đến gặp nhau tại đầu cầu ph a thôn Đ, N đưa súng cùng một túi đựng đạn cho T, T l p đạn vào súng, lên đạn, sau khi lên đạn xong, T đưa súng và số đạn th a lại cho N và ảo N đứng đ i, còn T chạy qua trên cầu ê tông để xem tình hình. Đ i lâu không thấy T quay lại, N điều khiển xe mô tô đến gần giữa cầu, thì thấy T chạy bộ đến và lấy súng t N r i tiếp tục chạy bộ sang ph a đầu cầu thôn Sao Sa. Sau khi T đi, nhóm của T1 t dưới cầu gãy đi lên, thấy N đang ng i trên xe, K đến h i chuyện biết N là ngư i quen nên K bảo N ng i yên không đư c đánh nhau, r i K b đi về ph a thôn Sao Sa, K đi đư c một đoạn thì Đ đến, dùng dao khống chế N, không cho N tham gia đánh nhau. Lúc này, H đến, gặp T ở đầu cầu ph a thôn Sao Sa, T đưa súng cho H và nói “Súng đã có đạn r i”. H cầm súng trên tay, tiến lên vài ước, thấy ph a gần giữa cầu có một nhóm thanh niên đang khống chế N, H chủ động b n 01 phát đạn, hướng nòng súng h i chách về ên tay trái của H, phát đạn trúng vào thành cầu, đổi hướng và trúng vào ngực của T, bị trúng đạn, T hét to “Anh ị trúng đạn r i”, nghe vậy C cầm kiếm, B cầm cây m a, T1 cầm gậy g xông về ph a H. hi nhóm này đang chạy đến, cách khoảng 7m thì H tiếp tục lên đạn và n tiếp một phát đạn nữa, trúng vào ngón tay út và áp út tay trái của C. Lúc này, K đã đến gần nhận biết đư c H là ngư i quen nên K giằng co súng với H, không cho H tiếp tục b n; đang giằng co, thì T chạy đến giật lấy súng. Trong lúc đó, T1 chạy đến ch H cầm gậy g đánh trúng ngư i H 02 gậy, đánh xong T1 lùi ra; C lao vào, tay phải cầm kiếm chém 05 nhát trúng vào lưng của H. C sau khi chém xong vì mệt do mất máu do trúng đạn nên ng i xuống. Thấy T bị trúng đạn, Đ dìu T ng i xuống ph a thành cầu r i cầm dao chạy đến ch H, mặc dù K can ngăn “không đư c đánh nữa”, nhưng vì H b n trúng đạn vào T là ạn của mình, nên Đ tức giận và chém 03 nhát vào phần đầu và lưng của H. B cầm cây m a tư i xông đến để đánh nhưng trong lúc lộn xộn đã ị đánh trúng mặt, nên B lùi lại không đánh nữa. Thấy H bị nhiều ngư i đánh, K đã khoác vai H và kéo H ra kh i đám đông, sau đó H b chạy. Thấy nhóm H đã chạy hết, nhóm T1 ra về đ ng th i vứt hung kh lại hiện trư ng, khi nhóm T1 đi qua cách vị tr của T đứng khoảng 70m, T chạy ra b n 03 phát đạn về hướng nhóm T1 nhưng không trúng ai. Tiếp đến T đưa súng lại cho N, còn T chở H đi ệnh viện. Đến khoảng 23 gi 50 phút, N gọi điện cho Nguyễn Văn T ở thôn Sao Sa, xã N, nh cất giấu súng và đư c T đ ng ý. N cầm súng đến nhà và đưa T cất giấu. Sau đó, T mang khẩu súng cất giấu tại vư n tre ph a sau nhà, sát sông Dinh thuộc xã N. Sáng ngày 12 6 2020, nghe tin lực lư ng Công an đang điều tra về vụ việc liên quan đến Nguyễn Văn H, lúc này Nguyễn Văn T đang hút cát trên sông Dinh nên gọi điện cho Nguyễn á T2 (là chú ruột của H) nh T2 đến địa điểm mà T cất súng, lấy để giao nộp cho Công an. Vì s H bị nặng tội, nên T2 đã mang khẩu súng trên ném xuống sông Dinh. C quan điều tra đã thực hiện nhiều biện pháp truy tìm nhưng không thu giữ đư c.
* Hậu quả:
- H đã dùng súng n 02 phát làm cho Phan Hoàng T bị trúng 01 (một phát đạn ở ngực, Nguyễn C trúng 01 (một phát đạn ở ngón tay út và áp út tay trái. Tại các ản kết luận giám định pháp y về thư ng t ch số 145,146, kết luận:
+ Thư ng t ch của Phan Hoàng T: Vết thư ng có dị vật ở tổ chức dưới da thành ngực trước ên trái trái đã đư c phẫu thuật lấy dị vật, khâu phục h i vết thư ng. Vết mổ trùng vết thư ng cạnh xư ng ức ngang xư ng sư n số 4 ên trái chếch xuống xư ng sư n số 6 ên trái để lại sẹo k ch thước 6,5 x 0,5cm. Tỷ lệ tổn thư ng c thể hiện tại là 02%.
+ Thư ng t ch của Nguyễn C: Ngón V àn tay trái: gãy hở đốt 1 có dị vật mảnh kim kh đã đư c phẫu thuật lấy dị vật kim kh , kết h p xư ng ằng đinh; 02 sẹo vết thư ng mặt trước liên đốt 1, 2 k ch thước 1x0,1cm và 1,3 x 0,1cm; sẹo vết thư ng mặt mu liên đốt 1, 2 k ch thước 1,4 x 0,1cm. Tỷ lệ tổn thư ng c thể ngón V àn tay trái gây nên là: 06%, tỷ lệ tổn thư ng c thể đốt 1 ngón IV àn tay trái là: 01%. Tổng thư ng t ch là 07%.
- Nguyễn Thanh T1, Nguyễn C và Nguyễn á Đ đã dùng gậy g , kiếm và dao, gây thư ng t ch cho Nguyễn Văn H ở đầu, lưng và mặt.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thư ng t ch số 117, ngày 06 8 2020 của T tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Quảng B, kết luận:
Vết thư ng trên đỉnh phải để lại sẹo k ch thước 5x0,3cm, tỷ lệ tổn thư ng là: 02%; Vết thư ng chẩm cổ sau để lại sẹo dọc k ch thước 8,5x0,6cm, tỷ lệ tổn thư ng là: 06%; Vết thư ng lưng trái cạnh cột sống t D1 đến D4 để lại sẹo k ch thước 7,5x0,2cm, tỷ lệ tổn thư ng là: 02%; 05 vết thư ng lưng phải để lại sẹo t trên xuống, tỷ lệ thư ng t ch m i vết là 02%; Vết thư ng mũi – má phải, tỷ lệ thư ng t ch là 03%.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trư ng, kết quả thực nghiệm điều tra phù h p với c chế hình thành dấu vết trên c thể của các ị hại t hung kh mà các ị can sử dụng, có căn cứ xác định:
- Các vết thư ng của Nguyễn C và Phan Hoàng T là do Nguyễn Văn H dùng súng gây nên.
- 05 vết thư ng lưng phải để lại sẹo t trên xuống, trên c thể của Nguyễn Văn H, tỷ lệ thư ng t ch m i vết là 02%; tổng tỷ lệ tổn thư ng là 10% là do Nguyễn C dùng kiếm gây nên.
- 03 vết thư ng trên c thể của Nguyễn Văn H g m: Vết thư ng trên đỉnh phải để lại sẹo k ch thước 5x0,3cm, tỷ lệ tổn thư ng c thể là: 02%; Vết thư ng chẩm cổ sau để lại sẹo dọc k ch thước 8,5x0,6cm, tỷ lệ tổn thư ng là: 06%; Vết thư ng lưng trái cạnh cột sống t D1 đến D4 để lại sẹo k ch thước 7,5x0,2cm, tỷ lệ tổn thư ng là: 02%. Tổng tỷ lệ tổn thư ng 10% là do Nguyễn á Đ dùng dao gây nên.
*Về vật chứng: Trong quá trình điều tra thu thập đư c:
- 01 túi vải màu xanh rêu k ch thước 25x9cm; 01 lọ nhựa màu tr ng, k ch thước 9x2,4cm, đựng dung dịch nh n; 01 àn chải ằng nhựa màu xanh, dài 7,2cm, có long ch i ở hai đầu; 02 chổi ằng kim loại dài 8,6cm, hai đầu có long chổi; 02 vòng kim loại màu đen, k ch thước 6,2x4x7cm, trên vòng có ký hiệu “T”; 01 vòng nhựa cứng màu đen; 01 que kim loại màu đ ng, dài 45 x 0,4cm, một đầu đư c g n với tay n m nhựa màu đen; 01 que kim loại màu đ ng, dài 13x0,4cm, một đầu đư c g n lông chổi màu t m; 01 v hộp caton, k ch thước 50x12x11cm.
Toàn ộ những đ vật trên, là dụng cụ dùng để lau chùi, vệ sinh khẩu súng mà ị cáo Nguyễn Văn H sử dụng gây án vào ngày 11 6 2020 tại cầu N, thuộc xã N, huyện B.
- 01 đ vật hình dạng súng, có chiều dài 102cm, phần ốp lót dưới và áng làm ằng g dài 61cm, đư c thu giữ tại n i ở của Nguyễn Văn H. ết quả giám định: Th i điểm giám định súng trong tình trạng không sử dụng đư c, các ộ phận tách r i, không có ộ phận cò súng. Xét đ vật trên không liên quan đến vụ án và đến hành vi phạm tội khác, không có khả năng tái tạo.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter GP màu s n xanh tr ng, iển kiểm soát 73E1 - 03097 của Nguyễn Văn H; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, số IMEL: 357217091707447, số máy: NT9G2VN A (của Nguyễn Văn H).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đ đen, iển kiểm soát 73F1 – 43391 của Nguyễn Ch T; 01 Giấy đăng ký xe mô tô, mang tên Nguyễn Ch T; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 112 màu xanh, IMEl1: 865950048963896; IMEL2: 8650048963888 (của Nguyễn Ch T)
- 01 thanh kiếm ằng kim loại, dài 93cm, cán dài 29,5cm đư ng k nh 3cm, lưỡi dài 63,5cm, vị tr rộng nhất 3,5cm, mũi nhọn (Thanh kiếm của Nguyễn Thanh T1 đưa cho Nguyễn C sử dụng gây thư ng t ch cho Nguyễn Văn H); 02 đoạn đùi g ; 02 (hai đoạn cây m a; 01 hòn đá k ch thước 8,7 x 7,1cm thu giữ tại hiện trư ng, không liên quan đến vụ án; 06 v đạn ằng kim loại màu vàng, dài 1,5cm, đư ng k nh 0,5cm, m i viên có ký hiệu “E”, là các v đạn do Nguyễn Văn H và Nguyễn Ch T b n tại hiện trư ng; 01 mảnh kim loại màu ạc dạng lép, k ch thước 1x0,8cm; là đầu đạn do Nguyễn Văn H n trúng Phan Hoàng T, đư c phát hiện găm trên ngực của Phan Hoàng T.
*Phần dân sự: uá trình điều tra, Gia đình ị can Nguyễn Văn H tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đ ng để kh c phục hậu quả cho bị hại Phan Hoàng T và Nguyễn C; Các ị can Nguyễn á Đ, Nguyễn C, Nguyễn Thanh T1 tự nguyện nộp m i ngư i 3.000.000 đ ng để kh c phục hậu quả cho Nguyễn Văn H.
Tại Bản n h nh sự s thẩm số 21/2021/HS-ST ngày 27/4/2021 của Tòa n nhân dân tỉnh Quảng B đã quyết định:
Tuyên ố: các ị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Ch T và Võ Văn N phạm tội “Giết người”; các ị cáo Nguyễn á Đ, Nguyễn Thanh T1 và Nguyễn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”; ị cáo Nguyễn á T2 phạm tội “Che giấu tội phạm”.
p dụng khoản 2 Điều 123; Điều 15; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 3 Điều 57 của ộ luật Hình sự, phạt ị cáo guyễn n H 04 n m tù, th i hạn tù t nh t ngày ị cáo H bị b t tạm giữ, tạm giam (16/6/2020).
p dụng khoản 2 Điều 123; Điều 15; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; khoản 3 Điều 57 của ộ luật Hình sự, phạt ị cáo guyễn Chí T 03 n m tù, th i hạn tù t nh t ngày ị cáo T bị b t tạm giữ, tạm giam (16/6/2020).
p dụng khoản 2 Điều 123; Điều 15; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; khoản 3 Điều 57 của ộ luật Hình sự, phạt ị cáo
n 03 n m tù, th i hạn tù t nh t ngày bị cáo N bị b t tạm giữ, tạm giam (16/6/2020).
Hội đ ng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam các ị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Ch T, Võ Văn N th i hạn 45 ngày để đảm ảo cho việc thi hành án (có Quyết định tạm giam riêng .
p dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 54 của ộ luật Hình sự, phạt ị cáo guyễn Thanh T1 18 tháng tù, th i gian chấp hành hình phạt tù t nh t ngày t bị cáo T1 đi thi hành án.
p dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 54 của ộ luật Hình sự, phạt ị cáo guyễn á Đ 15 tháng tù, th i gian chấp hành hình phạt tù t nh t ngày t bị cáo Đ đi thi hành án.
p dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 54 và Điều 91 ộ luật Hình sự, phạt ị cáo guyễn C 09 tháng tù, th i gian chấp hành hình phạt tù t nh t ngày t bị cáo C đi thi hành án.
p dụng điểm khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 ộ luật Hình sự, phạt ị cáo guyễn á T2 24 tháng cải tạo không giam giữ. Th i hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn á T2 t nh t ngày Ủy an nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Quảng B nhận đư c Quyết định thi hành án và Bản án có hiệu lực của Toà án.
Giao bị cáo guyễn á T2 cho Ủy an nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Quảng B giám sát, giáo dục trong thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình ị cáo guyễn á T2 có trách nhiệm phối hợp với Ủy an nhân dân xã N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T2.
Trong thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo guyễn á T2 phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ.
Ngoài ra, Toà án cấp s thẩm còn quyết định về i thư ng dân sự, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04 tháng 5 năm 2021, các ị cáo Nguyễn Thanh T1, Nguyễn á Đ, Nguyễn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đư c cải tạo không giam giữ hoặc hưởng án treo.
Ngày 06 tháng 5 năm 2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng B an hành uyết định kháng nghị phúc thẩm số 33 Đ N-VKS-P2 kháng nghị bản án hình sự s thẩm về việc áp dụng khung hình phạt đã xét xử đối với các bị cáo Nguyễn Thanh T1, Nguyễn á Đ, Nguyễn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; phần hình phạt đã tuyên đối với Nguyễn Văn H, Võ Văn N, Nguyễn Ch T và Nguyễn á T2; phần hình phạt tù có th i hạn đối với 03 bị cáo T1, Đ, C. Đề nghị Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm theo hướng: Xét xử 03 bị cáo T1, Đ, C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; cho bị cáo Nguyễn Thanh T1, Nguyễn á Đ đư c hưởng án treo; ị cáo Nguyễn C cải tạo không giam giữ; tăng hình phạt đối với các ị cáo Nguyễn Văn H, Võ Văn N, Nguyễn Ch T và Nguyễn á T2.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay:
Các bị cáo Nguyễn Thanh T1, Nguyễn á Đ và Nguyễn C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đư c cải tạo không giam giữ hoặc hưởng án treo.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút toàn ộ quyết định kháng nghị nêu trên.
Ý kiến của bị cáo Nguyễn Thanh T1: Sau khi xét xử s thẩm bị cáo có cung cấp thêm cho Hội đ ng xét xử một số tình tiết giảm nhẹ mới như: Giấy xác nhận có công tố giác nhóm đánh bạc, đư c Công an Thị trấn Việt T xác nhận; ông à Ngoại là ngư i có công cách mạng, đư c Hội đ ng Nhà nước tặng thưởng Huân chư ng kháng chiến Hạng nhất; đã chấp hành xong uyết định xử phạt vi phạm hành ch nh. Vì vậy, đề nghị Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho ị cáo đư c hưởng án treo.
Ý kiến của bị cáo guyễn á Đ: Bị cáo có cung cấp thêm cho Hội đ ng xét xử một số tình tiết giảm nhẹ mới như: Giấy xác nhận ông Ngoại là ngư i có công với cách mạng, đư c Hội đ ng Nhà nước tặng Huân chư ng kháng chiến Hạng III; Mẹ của bị cáo có Đ n xin xác nhận bố mới v a mất, bị cáo là lao động ch nh và duy nhất trong gia đình, đư c xác nhận của Uỷ an nhân dân xã T nên đề nghị Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho ị cáo đư c hưởng án treo.
Ý kiến của bị cáo guyễn C: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có lần nào vi phạm qui định pháp luật, có n i cư trú rõ ràng, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức chưa tới; bị cáo cũng v a là ị hại trong vụ án do hành vi trái pháp luật của bị cáo H dùng súng b n trúng vào tay của bị cáo trước. Vì vậy, đề nghị Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo đư c hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
Ý kiến của bị cáo guyễn n H,
n N, Nguyễn Chí T và guyễn á T2: Các ị cáo đã nhận thức đư c hành vi sai trái của mình, thật sự ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đ ng xét xử giữ nguyên mức hình phạt đối với các ị cáo.
Ý kiến Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà ẵng:
Đối với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng B cho rằng hành vi của Đ và C hoàn toàn độc lập với nhau, nguyên nhân, mục đ ch phạm tội khác nhau, Đ chém H là do tức giận việc H đã n vào T là ạn của Đ. C chém H trước và không thể biết Đ có chém H hay không; Đ chém H không iết C đã chém hay chưa. Vì vậy, hậu quả của Đ thì C không chịu trách nhiệm, hậu quả của C thì Đ không chịu trách nhiệm. Còn T1 do lấy dao đưa cho C nên T1 phải chịu hậu quả của C gây ra; Đ không phải do T1 gọi đến, khi Đ chém H ngoài tầm kiểm soát của T1 nên hậu quả của Đ gây ra thì T1 không chịu trách nhiệm. Vì vậy, không thể đánh đ ng hậu quả tổng thư ng t ch của H để truy tố các ị cáo Nguyễn Thanh T1, Nguyễn C và Nguyễn á Đ theo khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Đ ng th i, xét thấy mức hình phạt của các ị cáo trong vụ án là phù h p, tư ng xứng với t nh chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các ị cáo gây ra. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút toàn ộ nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng B, đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo, giữ nguyên ản án s thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình, phù h p với các tài liệu chứng cứ có trong h s vụ án; do đó, Hội đ ng xét xử có đủ c sở xác định: Vào khoảng 21 gi ngày 11 6 2020, vì mâu thuẫn cá nhân giữa Nguyễn Thanh T1 và Nguyễn Văn H, nên T1 và H đã hẹn nhau đến cầu N thuộc xã N, huyện B để giải quyết mâu thuẫn bằng cách đánh nhau.
Nguyễn Thanh T1 rủ Lư ng Văn B, Nguyễn C và Nguyễn Lư ng K, K gọi thêm Nguyễn á Đ, Phan Hoàng T, Trần Ngọc L, ùi Đức T, Nguyễn H và Nguyễn Minh P, tất cả đều trú tại xã N và T. Nguyễn á Đ chở Phan Hoàng T, trên đư ng đi Đ vào nhà của mình lấy một cây dao mang theo; Nguyễn Thanh T1 đi cùng Nguyễn C và Lư ng Văn B. Trên đư ng đi T1 vào nhà lấy một thanh kiếm đưa cho C cầm, Lư ng Văn B cầm một cây m a tư i, T1 cầm một gậy g bằng cây ạch đàn.
Nguyễn Văn H gọi cho Võ Văn N, Nguyễn Ch T và Nguyễn h c H2. H nh N và T về nhà của H lấy khẩu súng đưa đến cho H. N đã chạy về nhà Nguyễn Văn H lấy súng và một túi đạn đưa đến cho T, T l p đạn vào súng r i đưa cho H và ảo “súng đã có đạn r i”.
Lúc hai nhóm gặp nhau tại cầu N thì Đ đã dùng dao khống chế N, không cho N tham gia đánh nhau. Lúc này H đã dùng súng n một phát trúng vào ngực của T, khi biết T trúng đạn thì C cầm kiếm, B cầm cây m a, T1 cầm cây g xông vào ch H để đánh H. Khi thấy nhóm của T1 xông vào thì H lên đạn và n tiếp một phát trúng vào ngón tay út và áp út tay trái của C. Lúc này K nhận ra H là ngư i quen nên đã đến can H không cho n nữa còn T đến giật súng t tay H cầm đi ch khác. Cùng lúc đó thì T1 chạy đến cầm cây g đánh trúng ngư i H 02 cây; C lao vào dùng kiếm chém vào ngư i H 05 nhát (trúng vào phần lưng ; Đ cầm dao xông vào chém 03 nhát vào vùng đầu của H. Thấy H bị nhiều ngư i đánh nên K đã khoác vai H đưa ra kh i đám đông, sau đó H b chạy. Hậu quả: Phan Hoàng T3 ị H b n trúng một phát đạn ở ngực, tỷ lệ tổn thư ng c thể hiện tại là 02 %; Nguyễn C bị H b n trúng một phát đạn ở ngón tay út và áp út àn tay trái, tổng tỷ lệ tổn thư ng c thể là 07%. Tổng tỷ lệ tổn thư ng c thể do các thư ng t ch gây nên đối với Nguyễn Văn H là 20%. Trong đó c quan điều tra xác định đư c Nguyễn C đã dùng kiếm chém H 05 nhát vào vùng lưng, tỷ lệ thư ng t ch m i vết thư ng là 02%, tổng tỷ lệ tổn thư ng là 10%; Nguyễn á Đ dùng dao chém vào H 03 nhát gây ra vết thư ng trên đỉnh phải tỷ lệ tổn thư ng c thể là 02 %, vết thư ng chẩm cổ sau tỷ lệ tổn thư ng là 06% và vết thư ng lưng trái cạnh cột sống t D1 đến D4, tỷ lệ tổn thư ng là 02%, tổng tỷ lệ tổn thư ng gây ra cho H là 10%. Đối với vết thư ng mũi - má phải, theo c quan điều tra xác định là do H thiếu quan sát nên ị cành cây trên đư ng quét trúng khi đang trên đư ng đến ch đánh nhau.
Về tội danh: các ị cáo Nguyễn Văn H, Võ Văn N, Nguyễn Ch T bị truy tố và xét xử về tội “Giết người”; các ị cáo Nguyễn Thanh T1, Nguyễn C và Nguyễn á Đ bị truy tố và xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo Nguyễn á T2 bị truy tố và xét xử về tội “Che dấu tội phạm” nhưng các ị cáo không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị về phần này là đúng ngư i, đúng tội, nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Về hình phạt: Xét thấy, t nh chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các ị cáo gây ra: H, N, T về “Tội giết người”, T1, C, Đ về “Tội cố ý gây thương tích” là nguy hiểm cho xã hội; chỉ vì để giải quyết mâu thuẫn cá nhân mà các ị cáo đã hẹn nhau sử dụng súng, dao, kiếm, gậy g ,… để b n, chém, đánh nhau. Hành vi của các ị cáo thể hiện t nh coi thư ng pháp luật, coi thư ng t nh mạng, sức kh e của ngư i khác và gây mất an ninh, trật tự tại địa phư ng. Đối với Nguyễn á T2, sau khi nghe tin H sử dụng súng n ngư i khác ị thư ng thì T2 đã lấy súng vứt xuống sông. Hành vi của T2 đã gây khó khăn cho c quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, cần phải xử phạt các ị cáo với mức án nghiêm minh để răn đe, giáo dục riêng đối với các ị cáo và phòng ng a chung trong xã hội.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã rút toàn ộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng B Hội đ ng xét xử không xem xét và đình chỉ việc xét xử phuc thẩm đối với các ị cáo: Nguyễn Văn H, Võ Văn N, Nguyễn Ch T và Nguyễn á T2.
Xét yêu cầu kháng cáo của các ị cáo Nguyễn Thanh T1, Nguyễn á Đ, Nguyễn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Hội đ ng xét xử thấy rằng, Toà án cấp s thẩm khi quyết định hình phạt đối với các ị cáo đã cân nh c, đánh giá, t nh chất, vai trò, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các ị cáo gây ra; đ ng th i, cũng đã xem xét và vận dụng các tình tiết nặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các ị cáo như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các ị cáo đều khai áo thành khẩn, ăn năn hối cải nên đều đư c áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của ộ luật Hình sự; các ị cáo đã tự nguyện i thư ng thiệt hại, kh c phục hậu quả nên đư c áp dụng thêm điểm khoản 1 Điều 51 của ộ luật Hình sự xử phạt T1 18 tháng tù, Đ 15 tháng tù là phù h p, tư ng xứng với t nh chất, vai trò, mức độ do hành vi phạm tội của m i bị cáo gây ra. Riêng đối với bị cáo C khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi (mới 17 tuổi 11 tháng 15 ngày Toà án cấp s thẩm đã áp dụng ch nh sách của ngư i chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Hình sự và ch nh ị cáo cũng là ngư i bị hại do bị H dùng súng n trúng vào tay C trước đã xử phạt 09 tháng tù và không cho C đư c hưởng án treo là có phần nghiêm kh c.
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, đã phát sinh một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: Bị cáo Nguyễn Thanh T1 cung cấp cho Hội đ ng xét xử Giấy xác nhận có công tố giác nhóm đánh ạc cho Công an t và xử lý theo qui định pháp luật, đư c Công an Thị trấn Việt T, huyện B, tỉnh Quảng B xác nhận; ông à Ngoại là ngư i có công cách mạng, đư c Hội đ ng Nhà nước tặng thưởng Huân chư ng kháng chiến Hạng nhất; đã chấp hành xong uyết định xử phạt vi phạm hành ch nh; bị cáo Nguyễn á Đ cung cấp Giấy xác nhận có ông Ngoại là ngư i có công với cách mạng, đư c Hội đ ng Nhà nước tặng Huân chư ng kháng chiến Hạng III, Mẹ của Đ là à H Thị L có Đ n xin xác nhận bố của Đ mới v a mất, Đ là lao động ch nh và duy nhất trong gia đình tất cả đều đư c xác nhận của Uỷ an nhân dân xã T, đây là tình tiết giảm nhẹ đư c qui định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, đối với bị cáo T1 và Đ đều có 02 tình tiết giảm nhẹ đư c qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuy nhiên, T1 có vai trò ch nh trong nhóm tội “Cố ý gây thương tích” và khi phạm tội chưa chấp hành xong Quyết định xử lý vi phạm hành ch nh; đối với bị cáo Đ là ngư i thực hiện hành vi phạm tội t ch cực nên chỉ xem xét giảm cho 02 bị cáo thêm một phần hình phạt để thấy đư c sự khoan h ng của pháp luật ăn năn, hối cải, yên tâm cải tạo tốt để sớm hoà nhập với cộng đ ng, trở thành ngư i có ch cho xã hội. Đối với bị cáo C có nhân thân tốt, ngoài phạm tội lần này đều chấp hành tốt các qui định pháp luật, có n i cư trú rõ ràng, ị cáo là thanh niên mới lớn, khi phạm tội là ngư i chưa thành niên nên nhận thức còn hạn chế, nông nổi; bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ đư c qui tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bội luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng; đ ng th i bị cáo cũng v a là ị hại trong vụ án do hành vi trái pháp luật của bị cáo Nguyễn Văn H gây ra. Do đó, không nhất thiết phải b t bị cáo C chấp hành hình phạt tù cũng có khả năng tự cải tạo tốt và cũng không gây nguy hại cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phư ng.
T những phân t ch trên, Hội đ ng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các ị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên không phù h p với nhận định của Hội đ ng xét xử nên không chấp nhận, sửa bản án s thẩm theo hướng như đã nhận định trên.
Các quyết định khác của bản án hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không ị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đ ng xét xử không xem xét.
Về án ph : Do kháng cáo đư c chấp nhận nên các ị cáo Nguyễn Thanh T1, Nguyễn á Đ và Nguyễn C không phải chịu án ph hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm , đ khoản 1 Điều 355; Điều 357 của ộ luật Tố tụng hình sự.
1. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với các ị cáo Nguyễn Văn H, Võ Văn N, Nguyễn Ch T về tội “ Giết người” và Nguyễn á T2 về tội “Che dấu tội phạm”.
2. Chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Nguyễn Thanh T1, Nguyễn á Đ, Nguyễn C; sửa Bản án hình sự s thẩm số 21/2021/HS-ST ngày 27/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng B. Tuyên xử:
- p dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của ộ luật Hình sự, phạt ị cáo Nguyễn Thanh T1 12 tháng tù, th i gian chấp hành hình phạt tù t nh t ngày t bị cáo T1 đi thi hành án.
- p dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của ộ luật Hình sự, phạt ị cáo Nguyễn á Đ 09 tháng tù, th i gian chấp hành hình phạt tù t nh t ngày t bị cáo Đ đi thi hành án.
- p dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm , s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 và Điều 91 của ộ luật Hình sự, phạt ị cáo Nguyễn C 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách 18 tháng t nh t ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 15 – 11 - 2021).
Giao bị cáo Nguyễn C cho Ủy an nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng B giám sát giáo dục, trong th i gian thử thách án treo, gia đình ị cáo có trách nhiệm phối h p cùng ch nh quyền địa phư ng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong th i gian thử thách mà ị cáo Nguyễn C thay đổi n i cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong th i gian thử thách mà ị cáo Nguyễn C cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không ị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án ph : Căn cứ hoản 2 Điều 136 của ộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 2016 U TV H 14 ngày 30 12 2016 của Uỷ an Thư ng vụ uốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Các ị cáo Nguyễn Thanh T1, Nguyễn á Đ và Nguyễn C không phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.
ản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - V SNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh uảng B; - Công an tỉnh uảng B; - Sở Tư pháp tỉnh uảng B; - Cục THADS tỉnh uảng B; - U ND xã T; - ị cáo; Ngư i tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA, Phòng HCTP, lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) V Ngọc Thông |