vanban.org

Bản án 421/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 421/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18-6-2025
V/v “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình về ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Bửu Khánh

Ông Nguyễn Văn Mẫn

- Thư ký phiên Tòa: bà Võ Thị Mỹ Nhan là thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy An – kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:87/2025/TLST-HNGĐ, ngày14 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 211/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa :

-Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm: 1980( có đơn xin vắng)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

-Bị đơn: Anh Nguyễn Viết H, sinh năm: 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và ý kiến thể hiện có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Viết H quen biết tự nguyện chung sống vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình về chung sống với nhau, giữa chị và anh H không hợp tính ý. Vì vậy chị yêu cầu ly hôn anh H. Về con chung, chị xác định giữa chị và anh H có hai con chung tên Nguyễn Viết C, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2004 và Nguyễn Viết T, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2006. Hiện nay các con đã trưởng thành. Chị không yêu cầu giải quyết. Về tài sản và nợ chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

- 1 -

Bị đơn anh Nguyễn Viết H không giao nộp văn bản thể hiện ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị T và vắng mặt tham gia tố tụng tại Tòa án.

Phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn được thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: chị Phan Thị T và anh Nguyễn Viết H tự tìm hiểu quen biết và tự nguyện chung sống vợ chồng, không có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của chị T và anh H không được pháp luật thừa nhận. Vì vậy, chị T có yêu cầu ly hôn, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận anh Nguyễn Viết H và chị Phan Thị T là vợ chồng.

Về con chung: chị T xác định có hai con chung tên Nguyễn Viết C, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2004 và Nguyễn Viết T, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2006. Hiện nay các con đã trưởng thành. Chị không yêu cầu giải quyết nền đề nghị không xem xét.

Về tài sản và nợ chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: buộc chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về trình tự tố tụng: Chị Phan Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn Nguyễn Viết H nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Viết H với tư cách là bị đơn có nơi cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.

Chị Phan Thị T có đơn xin vắng mặt, riêng anh H đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp về việc kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên Tòa cho anh H nhưng không thực hiện được do anh H không có mặt tại nhà nên đã thực hiện thủ tục niêm yết theo quy định tại nơi cư trú, trụ sở Ủy ban nhân dân xã Thạnh Lộc nhưng anh H vắng mặt qua các lần mời Tòa không rõ lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị T và anh H

[2]. Về nội dung vụ án :

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Viết H tự nguyện chung sống vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị không được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị T và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn. Vì vậy, Chị T có yêu cầu ly hôn anh H là có căn cứ, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên bố không công nhận chị Phan Thị T và anh Nguyễn Viết H là vợ chồng.

[2.2] Về con chung: Chị T xác định chị và anh H có hai con chung tên Nguyễn Viết C, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2004 và Nguyễn Viết T, sinh ngày 13

- 2 - tháng 8 năm 2006. Hiện nay các con đã trưởng thành. Chị T không yêu cầu giải quyết nền không xem xét.

[2.3]Về tài sản và nợ chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:

Án phí ly hôn sơ thẩm chị Phan Thị T phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009168 ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Chị T đã nộp đủ án phí nên không phải nộp thêm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng áp phí lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Phan Thị T và anh Nguyễn Viết H là vợ chồng

2. Về con chung: Chị T và anh H có hai con chung tên Nguyễn Viết C, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2004 và Nguyễn Viết T, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2006. Hiện nay các con đã trưởng thành.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm chị Phan Thị T phải nộp là 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009168 ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Chị Tiện đã nộp đủ án phí nên không phải nộp thêm.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày; chị T được tính kể từ tuyên án (18-6-2025; anh H được tính kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ