- Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Đoàn Phúc  kiện Ủy ban nhân dân huyện C về Khiếu kiện quyết định thu hồi, bồi thường giá trị quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đoàn Phúc Â. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 142/2023/HC-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Điều 242 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 421/2024/HC-PT Ngày 20 - 5 -2024 V/v Khiếu kiện quyết định thu hồi, bồi thường giá trị quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy;
Các Thẩm phán:
Ông Dương Tuấn Vinh;
Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hành chính thụ lý số: 907/2023/TLPT-HC ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định thu hồi, bồi thường giá trị quyền sử dụng đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 142/2023/HC-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 764/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Đoàn Phúc Â, sinh năm 1977; (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Nguyễn Phú V, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ A khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. (có mặt)
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Huỳnh Minh T - Phó Chủ tịch. (vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
1/. Ông Nguyễn Hoài T1 - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C. (có mặt)
2/. Ông Ngô Trung T2 - Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng huyện C. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần Đ; Địa chỉ trụ sở: Số F P, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Đoàn Phúc Â.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện ông Đoàn Phúc  trình bày:
Ông Đoàn Phúc  yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy Quyết định số 15403/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 về việc thu hồi đất của hộ ông Đoàn Phúc Â, Quyết định số 2080/QĐ-UBND ngày 18/4/2022 điều chỉnh Quyết định số 15403/QĐ-UBND; Hủy Quyết định số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 về việc bồi thường thiệt hại giá trị quyền sử dụng đất và các khoản hỗ trợ khi thu hồi đất của hộ ông Đoàn Phúc  và Quyết định số 2596/QĐ-UBND ngày 06/5/2022 điều chỉnh Quyết định số 15700/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện C.
Lý do: Dự án khu dân cư C từ khi có Quyết định số 15403/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc thu hồi đất của hộ ông Đoàn Phúc  cho đến nay, Chủ đầu tư Công ty Cổ phần Đ không thực hiện theo đúng tiến độ đầu tư như đã cam kết làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của chủ sử dụng đất. Nếu Tòa án không hủy Quyết định số 15403/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 về thu hồi đất thì đề nghị hủy Quyết định số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 vì việc bồi thường thiệt hại giá trị quyền sử dụng đất và các khoản hỗ trợ đối với việc thu hồi đất không thỏa đáng, không đúng quy định pháp luật. Trên phần đất của ông  có 01 ngôi mộ và 01 kim tĩnh nhưng không được chiết tính bồi thường. Đồng thời, trên phần đất của ông  hiện có 03 doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng Ủy ban nhân dân huyện C không xem xét, hỗ trợ là không đúng quy định của pháp luật.
Trong thời gian Tòa án chuẩn bị xét xử thì ngày 18/4/2022 Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 2080/QĐ-UBND điều chỉnh Quyết định số 15403/QĐ-UBND và ngày 06/5/2022 Ủy ban nhân dân huyện C tiếp tục ban hành Quyết định số 2596/QĐ-UBND điều chỉnh Quyết định số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018, nội dung điều chỉnh tên chủ sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, điều này là trái quy định pháp luật.
Người bị kiện UBND huyện C có ý kiến tại văn bản số 28253/UBND-NC ngày 30/5/2022 như sau:
Theo hồ sơ thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, ông Đoàn Phúc  có tổng diện tích thu hồi là 825m2 (trong đó: thửa đất số 161, tờ bản đồ số 10, diện tích 524m2 và thửa đất số 200, tờ bản đồ số 10, diện tích 301m2, mục đích sử dụng đất ở tại đô thị) có nhà cửa, vật kiến trúc, cây cối thuộc phạm vi thu hồi của dự án khu dân cư Chợ Mới do Công ty Cổ phần Đ đầu tư tại thị trấn C. Theo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, ông Đoàn Phúc  được bồi thường với tổng số tiền là 7.914.348.562 đồng, đủ điều kiện tái định cư bằng đất. Hiện ông Đoàn Phúc  chưa đồng ý nhận tiền bồi thường. Cụ thể:
Ngày 03/6/2015, Trung tâm phát triển quỹ đất phối hợp cùng Ủy ban nhân dân thị trấn C, Chủ đầu tư tổ chức kiểm kê đất và tài sản trên đất đối với ông Đoàn Phúc Â. Ông Đoàn Phúc  có tham dự và thống nhất số liệu kiểm kê, ký tên vào biên bản.
Ngày 26/12/2018, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 15403/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ ông (bà) Đoàn Phúc  và Quyết định số 15700/QĐ-UBND về việc bồi thường thiệt hại giá trị quyền sử dụng đất và các khoản hỗ trợ đối với việc thu hồi đất của hộ ông (bà) Đoàn Phúc  để đầu tư xây dựng dự án Khu dân cư C với tổng số tiền là 7.914.348.562 đồng.
Ngày 28/12/2018, Ban Q phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức công bố quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường thiệt hại quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và các khoản hỗ trợ thuộc dự án. Ông Đoàn Phú Â1 không đến dự; cùng ngày Ban Q đã lập thủ tục niêm yết quyết định thu hồi đất đối với trường hợp của ông Đoàn Phúc  tại Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện, trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn C, trụ sở khu phố D và nhà ông Huỳnh Văn B (Tổ 7, Khu phố D, Quốc lộ E, thị trấn C, huyện C).
Ngày 01/10/2020, Ban Q phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn C, chủ đầu tư mời ông  để vận động, nhận tiền bồi thường, đồng thời công bố và trao lại quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường cho ông Â. Ông  có đến tham dự nhưng không đồng ý nhận tiền bồi thường, đề nghị được thương lượng hoán đổi đất với chủ đầu tư.
Ngày 25/6/2021, Ban Q tiếp tục phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn C, chủ đầu tư mời ông  để vận động, nhận tiền bồi thường. Ông Đoàn Phúc  có đến tham dự nhưng không đồng ý nhận tiền bồi thường, đề nghị được hoán đổi đất đúng vị trí.
Ngày 18/4/2022, Ủy ban nhân dân huyện B1 Quyết định số 2080/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định thu hồi đất số 15403/QĐ-UBND ngày 26/12/2018.
Ngày 06/5/2022, Ủy ban nhân huyện ban hành Quyết định số 2596/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018.
Ngày 18/5/2022, Ban Q đã chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn C, chủ đầu tư mời ông Đoàn Phúc  đến để công bố, trao các quyết định điều chỉnh. Ông Đoàn Văn S (cha ông Â) có đến dự, nhận các quyết định điều chỉnh và sẽ trao lại các quyết định trên cho ông Đoàn Phúc Â.
Do đó, các Quyết định hành chính nêu trên được ban hành là đúng theo quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An bác nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Â, giữ nguyên Quyết định số 15403/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 (được sửa đổi theo Quyết 2080/QĐ-UBND ngày 18/4/2022) và Quyết định số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 (được sửa đổi theo Quyết định số 2596/QĐ-UBND ngày 06/5/2022) của UBND huyện C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đ vắng mặt và không có lời trình bày trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 142/2023/HC-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định như sau:
Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 137, Điều 138, Điều 139, Điều 348 Luật tố tụng hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Áp dụng Điều 69, Điều 71, Luật Đất đai 2013.
1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Phúc Â
Hủy một phần Quyết định số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc bồi thường thiệt hại giá trị tài sản trên đất và các khoản hỗ trợ do thu hồi đất đối với ông Đoàn Phúc Â.
2/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Phúc  đối với yêu cầu: Hủy Quyết định số 15403/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 về việc thu hồi đất; Quyết định 2080/QĐ-UBND ngày 18/4/2022 về việc điều chỉnh Quyết định số 15403/QĐ-UBND ngày 26/12/2018; Quyết định số 2596/QĐ-UBND ngày 06/5/2022 điều chỉnh Quyết định số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của Ủy ban nhân dân huyện C.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/9/2023, người khởi kiện ông Đoàn Phúc  có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Đoàn Phúc  có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Phú V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Phúc Â.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện C đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Đoàn Phúc Â; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Đoàn Phúc Â; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Đoàn Phúc  làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Đối với Quyết định số 15403/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của UBND huyện C về việc thu hồi đất:
Ngày 20/5/2014, UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 1603/QĐ-UBND về việc thỏa thuận địa điểm đầu tư của Công ty Cổ phần Đ đầu tư dự án Khu dân cư C tại thị trấn C. Ngày 12/9/2014, UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 3061/QĐ-UBND về việc điều chỉnh ranh, giảm diện tích dự án Khu dân cư C do Công ty Cổ phần Đ làm chủ đầu tư trên địa bàn huyện C.
Ngày 11/12/2014, Hội đồng nhân dân tỉnh L phê duyệt Nghị quyết số 173/NQ-HĐND về việc thông qua danh mục các dự án cần thu hồi đất, tổng mức ngân sách Nhà nước cấp cho việc bồi thường, giải phóng mặt bằng trong năm 2015 của tỉnh Long An. Ngày 26/4/2016, Hội đồng nhân dân tỉnh L phê duyệt Nghị quyết số 262/NQ-HĐND về việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Long An.
Ngày 29/12/2017, UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 4844/QĐ-UBND về việc phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của huyện C. Ngày 29/12/2017, UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 4844/QĐ-UBND về việc ủy quyền cho UBND các huyện, thị xã K và thành phố T quyết định thu hồi đất.
Ngày 26/12/2018, UBND huyện C ban hành Quyết định số 15403/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ ông (bà) Đoàn Phúc  để đầu tư xây dựng dự án khu dân cư C do Công ty Cổ phần Đ đầu tư trên địa bàn thị trấn C.
Ngày 11/5/2015, UBND huyện C kết hợp Trung tâm phát triển quỹ đất lập biên bản niêm yết công khai thông báo thu hồi đất tại UBND thị trấn C.
Ban Q phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức công bố quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư; quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường thiệt hại quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và các khoản hỗ trợ cho ông Đoàn Phúc  vào các ngày 28/12/2018, 02/10/2020, 25/6/2021. Ông  không đồng ý nhận tiền bồi thường, đề nghị được thương lượng hoán đổi đất với chủ đầu tư.
Như vậy, UBND huyện C ban hành Quyết định thu hồi đất 15403/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 là có căn cứ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 67, Điều 69 Luật Đất đai 2013.
Đối với Quyết định số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của UBND huyện C về việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất:
Ngày 07/9/2018, UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 3127/QĐ-UBND về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện dự án Khu dân cư C do Công ty Cổ phần Đ tại thị trấn C, huyện C. Trên cơ sở đó, UBND huyện C ban hành Quyết định số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 để bồi thường giá trị đất và tài sản trên đất cho ông  đối với tổng diện tích đất bị thu hồi là 825m2 với tổng số tiền là 7.914.348.562 đồng. UBND huyện C đã công bố công khai và niêm yết theo đúng quy định của Điều 69, 74 Luật Đất đai 2013.
Tuy nhiên, UBND huyện C có sai sót trong quá trình kiểm đếm tài sản trên đất dẫn đến ban hành quyết định bồi thường cho ông  thiếu 01 ngôi mộ, 01 kim tĩnh, đồng thời trên phần nhà đất của ông  có 03 doanh nghiệp đang hoạt động nhưng chưa được UBND huyện C xem xét hỗ trợ di dời, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông  và 03 doanh nghiệp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Â, hủy một phần Quyết định bồi thường số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 đối với phần bồi thường giá trị tài sản gắn liền với đất cho ông  và hỗ trợ di dời cho 03 doanh nghiệp là có căn cứ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người sử dụng đất.
Về việc ban hành các Quyết định điều chỉnh số 2080/QĐ-UBND ngày 18/4/2022 và Quyết định 2596/QĐ-UBND ngày 06/5/2022:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện C cấp cho cá nhân ông Đoàn Phúc Â, nhưng trong quá trình kiểm đếm, UBND huyện C có sai sót dẫn đến việc ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường ghi tên hộ ông Đoàn Phúc  là không đúng đối tượng sử dụng đất. Vì vậy, UBND huyện C ban hành Quyết định 2080/QĐ-UBND ngày 18/4/2022 và Quyết định 2596/QĐ-UBND ngày 06/5/2022 điều chỉnh tên trong quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường từ hộ ông Đoàn Phúc  thành ông Đoàn Phúc  là đúng quy định pháp luật, đúng đối tượng sử dụng đất, đảm bảo quyền lợi cho ông Â.
Qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của ông V và người bảo vệ quyền và lợi ích cho UBND huyện C trước Tòa, các bên đều khẳng định chưa có quyết định nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi dự án khu dân cư C do Công ty cổ phần Đ đầu tư. Vì vậy, phía người khởi kiện cho rằng dự án này thuộc diện bị thu hồi để yêu cầu hủy các quyết định hành chính liên quan nêu trên là không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đoàn Phúc Â, cần giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Đoàn Phúc  phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đoàn Phúc Â. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 142/2023/HC-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Tuyên xử:
1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Phúc Â:
Hủy một phần Quyết định số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của UBND huyện C về việc bồi thường thiệt hại giá trị tài sản trên đất và các khoản hỗ trợ do thu hồi đất đối với ông Đoàn Phúc Â.
2/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Phúc  đối với các yêu cầu: Hủy Quyết định số 15403/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của UBND huyện C về việc thu hồi đất; Quyết định số 2080/QĐ-UBND ngày 18/4/2022 của UBND huyện C về việc điều chỉnh Quyết định số 15403/QĐ-UBND ngày 26/12/2018; Quyết định số 2596/QĐ-UBND ngày 06/5/2022 của UBND huyện C điều chỉnh Quyết định số 15700/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của UBND huyện C.
3/. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đoàn Phúc  chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ (đã nộp xong).
4/. Về án phí:
Về án phí sơ thẩm: UBND huyện C phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. H lại cho ông Đoàn Phúc  300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai 0000203 ngày 21/02/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Về án phí phúc thẩm: Ông Đoàn Phúc  phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0000107 ngày 06/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
5/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - Cục THADS tỉnh Long An; - Đương sự (3); - Lưu VP(3), HS(2).13b.LTTT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Thủy |