- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Vương L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Vương L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH _________________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 421/2022/HS-ST Ngày: 31-10-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đăng Vạn
2. Ông Mai Thanh Giàu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang, Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm
thụ lý số: 372/2022/TLST-HS ngày 07 th ng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 444/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022 đối với
bị cáo:
Nguyễn Văn Vƣơng L, sinh năm 1998, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi
đăng ký hộ khẩu thường trú: quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú:
Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Thợ điện; Trình độ văn hóa
(học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:
Việt Nam; Con ông Không rõ và bà Nguyễn Thị Kiều Nh, sinh năm 1970; Chưa
có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm
giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2022 và có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Lê Thị Thu L, sinh năm 1977 (có mặt)
Địa chỉ: quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trần Thiện T, sinh
năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
Người chứng kiến: Anh Lê Thanh T, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ n được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/5/2022, L mặc đồng phục công nhân
Công ty TNHH-TM-Minh C và điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu xanh đen, biển số 59V2 - 917.29 đi vào nhà số Khu phố 5, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh của chị Lê Thị Thu L làm chủ và gặp anh Lê Thanh T là người trông coi công trình xây dựng nhà của chị L. L tự xưng là nhân viên bảo trì thang m y để được anh T cho vào nhà, L lên tầng 2 và lén lút tháo lấy 01 biến tần cửa, 01 bo đầu cabin của thang máy bỏ vào ba lô rồi mang đi ra khỏi nhà và đi về nhà trọ của Nguyễn Trần Thiên T tại nhà số Đường 20, Phường 5, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh là bạn học chung trường của L gửi. Tâm hoàn toàn không biết số tài sản trên do L lấy trộm của người khác.
Đến 13 giờ 00 phút ngày 18/7/2022, L điều khiển mô tô biển số 59V2-
917.29 trên đường Nguyễn Thị Nh, khu dân cư Vạn Phúc, Khu phố 5, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, thì bị Công an phường Hiệp Bình Phước tuần tra thấy nghi vấn nên đưa về làm việc và L đã khai nhận toàn bộ sự việc như trên.
Kết luận định giá tài sản số: 261-KV3-KLĐG-HĐĐGTS ngày 26/7/2022
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức, kết luận: 01 bộ biến tần cửa thang máy hiệu Panasonic-AD03040D.02 trị giá 8.000.000 đồng, 01 bo mạch đầu ca bin thang máy trị gi 2.500.000 đồng. Tổng trị giá 10.500.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Nguyễn Văn
Vương L thừa nhận hành vi phạm tội nhưa đã nêu trên.
Vật chứng vụ án:
- 01 bộ biến tần cửa thang máy hiệu Panasonic-AAD03040D.02; 01 bo
mạch đầu ca bin thang máy. Ngày 09/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã trả lại tài sản trên cho chị Lê Thị Thu L;
- 01 tuốt nơ vít c n nhựa màu đỏ, dài 22cm;
- 01 kềm cán nhựa màu xanh, dài 20cm;
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen xanh, biển số 59V2-
917.29, số khung: 3803GY114609, số máy: JA38E0278169;
- 01 quần Jean hiệu Fashion màu xanh;
- 01 áo công nhân dài tay, phía sau có dòng chữ Công ty thang máy Minh
Ch, điện thoại .
- Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Thu L đã nhận lại tài sản và không
yêu cầu bồi thường gì.
Cáo trạng số: 346/CT-VKSTPTĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố
Nguyễn Văn Vương L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều
173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn Vương L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như
nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, bị
cáo thành khẩn khai b o, ăn năn hối cải.
Bị hại chị Lê Thị Thu L đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên Quyết
định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Vương L về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau
khi phân tích, đ nh gi tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị c o, đại diện Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản
1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được
sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Vương L từ 01 năm tù
đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị tịch thu sung vào ngân s ch nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Honda
Wave RSX màu đen xanh, biển số 59V2-917.29, số khung: 3803GY114609, số
máy: JA38E0278169.
Tịch thu tiêu hủy: 01 tuốt nơ vít c n nhựa màu đỏ, dài 22cm; 01 kềm cán
nhựa màu xanh, dài 20cm; 01 quần Jean hiệu Fashion màu xanh; 01 áo công
nhân dài tay, phía sau có dòng chữ Công ty thang máy Minh C, điện thoại
8422672.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai
trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an
thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức,
Kiểm s t viên trong qu trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qu trình điều tra và tại
phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, c c hành vi, quyết định
tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều
hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Vương L đã khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Biên bản
ghi lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh s t điều tra; Bản tự khai của bị cáo; Lời khai của bị hại; Người liên quan; Tang vật thu giữ; Kết luận định giá tài sản và các tang vật, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ n. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/5/2022, Nguyễn Văn Vương L thực hiện hành vi lén lút lấy 01 bộ biến tần cửa thang máy hiệu Panasonic-AAD03040D.02 trị giá 8.000.000 đồng, 01 bo mạch đầu ca bin thang máy trị gi 2.500.000 đồng, tổng trị giá là 10.500.000 đồng của chị Lê Thị Thu L tại nhà số Đường 40 khu dân cư Vạn Phúc, Khu phố 5, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của Nguyễn Văn Vương L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Lời khai của bị c o đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện
Viện kiểm s t đã truy tố và luận tội đối với bị c o. Như vậy, nội dung bản c o trạng của Viện kiểm s t nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị c o Nguyễn Văn Vương L là đúng người, đúng tội, đúng ph p luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở
hữu tài sản hợp pháp của người kh c được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị c o là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xét trong suốt qu trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có th i độ thành khẩn khai b o, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần xem xét p dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị c o một phần hình phạt mà lẽ ra bị c o phải chịu.
Đối với Nguyễn Trần Thiên T có cho Long gửi 01 bộ biến tần cửa
thang máy hiệu Panasonic-AAD03040D.02, 01 bo mạch đầu ca bin thang máy nhưng T không biết tài sản trên do L phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý Tâm.
Vật chứng vụ án:
01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen xanh, biển số 59V2-
917.29, số khung: 3803GY114609, số máy: JA38E0278169. Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân ngân s ch nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
01 tuốt nơ vít c n nhựa màu đỏ, dài 22cm; 01 kềm cán nhựa màu
xanh, dài 20cm. Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
01 quần Jean hiệu Fashion màu xanh; 01 áo công nhân dài tay, phía
sau có dòng chữ Công ty thang máy Minh C, điện thoại 422672. Đây là trang
phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị c o không đồng ý nhận lại
nên tịch thu tiêu hủy.
Về dân sự: Bị hại chị Lê Thị Thu L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu
bồi thường gì nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm thẩm theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Vương L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Vương L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính
từ ngày 19/7/2022.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi,
bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào ngân s ch nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave
RSX màu đen xanh, biển số 59V2-917.29, số khung: 3803GY114609, số m y:
JA38E0278169.
Tịch thu tiêu hủy: 01 tuốt nơ vít c n nhựa màu đỏ, dài 22cm; 01 kềm cán
nhựa màu xanh, dài 20cm; 01 quần Jean hiệu Fashion màu xanh; 01 áo công
nhân dài tay, phía sau có dòng chữ Công ty thang máy Minh C, điện thoại
22672.
(theo Phiếu nhập kho số NK22/109C ngày 30/9/2022 của Chi cục Thi
hành n dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn Vương L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án
phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được
quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản
n được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - Công an TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Cƣờng |