vanban.org

Bản án 420/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Văn Thị Kim N.

Về hôn nhân: Chị Văn Thị Kim N được ly hôn với anh Nguyễn Minh T. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 09/4/2002 và Nguyễn ộc Gia T2, sinh ngày 17/6/2013. Giao cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2 cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi. Cháu T1 đã trưởng thành nên không yêu cầu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Văn Thị Kim N và Nguyễn Minh T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Văn Thị Kim N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 420/2024/HNGĐ-ST;
Ngày: 11/9/2024.
V/v tranh chấp“Xin ly hôn, tranh
chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thủy Uyên;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bé Ba;

2. Ông Nguyễn Phúc Viễn;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thành Khánh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 303/2024 T T-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 172 2024 QĐ T-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Văn Thị Kim N, sinh năm 1977;

Địa chỉ: ấp LT, xã ong Bình Điền, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1978;

Địa chỉ: ấp LT, xã ong Bình Điền, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

(Chị N có đơn đề nghị vắng mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Văn Thị Kim N trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Minh T tự nguyện cưới nhau và sống chung từ năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Anh chị sống hạnh phúc đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, N nhân là do anh T Thường xuyên nhậu nhẹt, ăn chơi, cờ bạc, không lo cho vợ con và không lo kinh tế gia đình. Anh chị đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành công nên đã mạnh ai nấy sống từ đầu năm 2024, không quan tâm lẫn nhau. Nay không còn tình cảm nên chị xin được ly hôn với anh T.

- 2 -

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 09/4/2002 và Nguyễn ộc Gia T2, sinh ngày 17/6/2013 hiện đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu T1 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Minh T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, trừ bị đơn không chấp hành đúng quy định. Về nội dung, yêu cầu của chị Văn Thị Kim N về việc xin ly hôn và nuôi con là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn chị Văn Thị Kim N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh T nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh T cư trú tại ấp LT, xã ong Bình Điền, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh T đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị N và anh T.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Văn Thị Kim N, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hôn nhân: Chị N và anh T cưới nhau năm 2000, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 14/4/2000 tại Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 uật hôn nhân và gia đình. Chị N xin ly hôn với anh T với lý do anh T Thường xuyên nhậu nhẹt, ăn chơi, cờ bạc, không lo cho vợ con và không lo kinh tế gia đình. Anh chị đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành công nên đã mạnh ai nấy sống từ đầu năm 2024, không quan tâm lẫn nhau. Tòa án đã triệu tập anh

- 3 -

T nhiều lần để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng anh vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N, cho thấy anh T không có thành ý cứu vãn cuộc hôn nhân giữa hai người. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh T đã trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 uật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 09 4 2002 và Nguyễn ộc Gia T2, sinh ngày 17 6 2013 hiện đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2. Xét thấy cháu T2 đang sống với chị N đã ổn định về chỗ ở và điều kiện sinh hoạt, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T2 là muốn sống cùng mẹ. Anh T không có văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng cháu T2 và vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T2 cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 uật hôn nhân và gia đình. Còn cháu T1 đã trưởng thành, chị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Chị N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Điều 227, Điều 228, Điều 235 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- 4 -

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Văn Thị Kim N.

Về hôn nhân: Chị Văn Thị Kim N được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 09/4/2002 và Nguyễn ộc Gia T2, sinh ngày 17/6/2013. Giao cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2 cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi. Cháu T1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 uật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.

Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu số 0007719 ngày 27/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, nên xem như chị đã nộp xong.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 uật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 uật Thi hành án dân sự. .

Cỡ chữ