vanban.org

Bản án 420/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 20/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: không xem xét. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 về án phí, lệ phí: buộc bị cáo Trần Hoàng A phải nô ̣p 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoài A -Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 420/2019/HSST
Ngày: 20/8/2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Quý Sửu

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Xuân Thiêm

2. Bà Hà Thị Hồng Phúc

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Tiến, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2019 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 418/2019/HSST ngày 23/7/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2019/QĐXXST-HS ngày 29/7/2019 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Trần Hoàng A, giới tính : Nam; tên gọi khác : Không; sinh ngày 16/02/2000; nơi đăng ký HKTT: xóm C, xã C, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán dìu; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Không; học vấn: 09/12; con ông Trần Trung C và bà Hoàng Thị Ph; chưa có vợ, con; tiền án: Bản án số 21/2018/HSST ngày 17/5/2018, Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “ Trộm cắp tài sản”; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 08/6/2019 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Lưu Văn Th, sinh năm: 1972; có đơn xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: Tổ 18, phường P, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h00’ ngày 05/6/2019, Trần Hoàng A đi bộ đến Trung tâm y tế thành phố Thái Nguyên, thuộc tổ 23, phường P, thành phố Thái Nguyên, mục đích trộm cắp tài sản. Hoàng A đi lên tầng 5 khu vực nhà B , tòa nhà 6 tầng đến phòng 501 quan sát qua cửa ra vào bằng nhôm – kính, thấy cửa phòng khóa không có người, bên trong để 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP-4520S-I5-VGA1G đang cắm sạc trên bàn làm việc. Hoàng A dùng 2 tay cầm vào tay nắm cửa phòng giật mạnh làm cửa bung ra rồi vào phòng lấy trộm 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu HP-4520S-I5-VGA1G, 01 bộ sạc máy tính, 01 chuột máy tính, 01 túi đựng máy tính xách tay bằng vải màu nâu trong túi xách có 01 chiếc bút chỉ bảng Laze màu đen của anh Th để gần đó. Hoàng A cho chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu HP-4520S-I5-VGA1G cùng 01 bộ sạc máy tính, 01 chuột máy tính vào túi đựng máy tính xách tay rồi sách túi đi bộ ra đường Cách mạng tháng 8 về hướng đảo tròn trung tâm thành phố Thái Nguyên. Khi đi qua ngã tư đèn xanh đèn đỏ Cách mạng Tháng 8 - Phan Đình Phùng khoảng 100m, Hoàng A vẫy xe ô tô Taxi và bán toàn bộ số tài sản đã trộm cắp được của anh Th cho người lái Taxi, chưa rõ lai lịch với giá 600.000 đồng. Sau khi bán được tài sản Hoàng A đã xuống xe tại khu vực chợ Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên và sử dụng hết số tiền bán tài sản đã trộm cắp được để tiêu xài cá nhân. Tài sản bị cáo trộm cắp hiện không thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 157/HĐĐGTS ngày 17/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: trị giá 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP 4520 – i5 – VGA1G, màu đen, kèm theo 01 sạc đều đã qua sử dụng có giá là 4.000.000 đồng; 01 túi đựng máy tính xách tay không rõ nhãn hiệu đã qua sử dụng chưa đủ cơ sở định giá; 01 chuột máy tính không dây nhãn hiệu MITSUMI Optical, màu đen đã qua sử dụng giá 100.000 đồng; 01 bút chỉ bảng Laze màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, không đủ cơ sở định giá.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Hoàng A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 415/CT-VKSTPTN ngày 22/7/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã quyết định truy tố bị cáo Trần Hoàng A “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Hoàng A khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên bản cáo trạng số 415/CT-VKSTPTN ngày 22/7/2019, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Trần Hoàng A từ 12 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bi cáo; trách nhiệm dân sự: không xem xét; buộc bị cáo nộp số tiền 600.000 đồng vào ngân sách Nhà nước.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trần Hoàng A đều khai nhận, tối ngày 05/6/2019 bị cáo đã đến phòng số 501, Tòa nhà 6 tầng của Trung tâm y tế thành phố Thái Nguyên, giật cánh cửa nhôm kính lấy 01 chiếc máy tính xách tay, 01 túi đựng máy tính, 01 chuột máy tính và 01 bút chỉ bảng Laze màu đen. Sauk hi trộm cắp được, bị cáo đã bán cho người lái taxi không rõ tên, địa chỉ được 600.000 đồng tiêu sài hết.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, phù hợp với các biên bản xác định hiện trường, biên bản sự việc, Kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Trần Hoàng A đã có hành vi trộm cắp tài sản trị giá 4.100.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng số 415/CT-VKSTPTN ngày 22/7/2019 VKSND thành phố Thái Nguyên truy tố Trần Hoàng A theo các tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là tái phạm.

Về hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, nên áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

[10Về trách nhiệm dân sự: Bị hai không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không xem xét.

Đối với số tiền 600.000 đồng bị cáo bán tài sản do trộm cắp mà có, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự buộc bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo, bị hại, được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Trần Hoàng A 12 ( mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 08/6/2019.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Trần Hoàng A 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Trần Hoàng A nộp 600.000 đồng vào ngân sách Nhà nước.

3. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 về án phí, lệ phí: buộc bị cáo Trần Hoàng A phải nô ̣p 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ