- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị V và anh D"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 42/2023/HNGĐ-ST Ngày 21 - 7 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Diêm Đăng Hoạt.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Oanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Vân, thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hà Đăng Chương, Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 21 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2023/QĐXX-ST ngày 30 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1985, có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1984, có mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố xxx, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tiếp theo tại Tòa án chị Nguyễn Thị V trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn D ngày 14/01/2005, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã C (nay là thị trấn C), huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh mâu thuẫn từ tháng 7/2022, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm lối sống, không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế, anh D không lo toan cuộc sống gia đình và có mối quan hệ với người phụ nữ khác, chị có khuyên bảo nhiều lần nhưng anh D không thay đổi, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng trầm trọng đánh cãi chửi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2023 đến nay, chị đã về bên ngoại sinh sống, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, chị giữ nguyên yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh D được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 19/10/2005, cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 26/11/2013, hiện hai con chung đang ở cùng anh D và ông bà nội. Sau khi ly hôn chị mong muốn được nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh D phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, chị đủ điều kiện nuôi con ăn học đầy đủ, mức thu nhập của chị khoảng 12.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản, công nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ.
Quá trình giải quyết vụ án cán bộ Tòa án và chính quyền địa phương đã đến gia đình anh Nguyễn Văn D để giao giấy tờ và để làm việc, tuy nhiên anh D cố tình trốn tránh không gặp và không làm việc với cán bộ Tòa án. Tòa án đã tiến hành giao các giấy tờ cho bà Bùi Thị D1 là mẹ anh D nhận thay và cam kết giao cho anh D các giấy tờ của Tòa án.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 20/7/2023 và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn D trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị V năm 2004, sau một thời gian tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại UBND xã C (nay là thị trấn C), huyện T. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Theo anh vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vài tháng nay, nguyên nhân có những mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt gia đình, vợ chồng xảy ra xô xát nên chị V tự ý bỏ nhà đi, anh đã 3 lần đến đón chị V về đoàn tụ nhưng chị V không về. Nay chị V xin ly hôn anh không nhất trí, lý do để cho cháu M học xong đại học thì anh sẽ xem xét có ly hôn không.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 19/10/2005, cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 26/11/2013, hiện hai con chung đang ở cùng anh và ông bà nội. Trường hợp phải ly hôn thì anh mong muốn được nuôi dưỡng cả hai con chung, anh đủ điều kiện nuôi con ăn học, mức thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 30/6/2023 cháu Nguyễn Thị M và cháu Nguyễn Văn H trình bày: Các cháu là con của bố Nguyễn Văn D và mẹ Nguyễn Thị V, các cháu đều trình bày là mong muốn bố mẹ về chung sống cùng nhau để có bố có mẹ. Trong trường hợp bố mẹ ly hôn thì cháu M có nguyện vọng được ở với chị V, cháu H có nguyện vọng được ở với anh D.
Tại phiên toà chị Nguyễn Thị V vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Văn D được ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu M, anh Dũng nuôi dưỡng cháu H, về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản và công nợ chung không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Văn D trình bày, không nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị V, trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, anh đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con chung, về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản và công nợ chung không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị V thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định, bị đơn anh Nguyễn Văn D chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 19/10/2005. Giao anh Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 26/11/2013, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Vụ án tranh chấp về Hôn nhân gia đình giữa chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn D có địa chỉ thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị V, bị đơn anh Nguyễn Văn D và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì có cơ sở xác định như sau:
Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn D kết hôn ngày 14/01/2005 trên cơ sở hai bên được tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã C (nay là thị trấn C), huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, hiện vợ chồng đã có hai con chung với nhau, do vậy cần xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Mâu thuẫn vợ chồng: Chị Nguyễn Thị V xác định mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 7/2022, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, lối sống không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Ngoài ra anh D có mối quan hệ với người phụ nữ khác, về lại đánh đuổi chị dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2023 nên không còn tình cảm, chị xin được ly hôn anh D. Anh Nguyễn Văn D cho rằng vợ chồng chỉ có những mâu thuẫn nhỏ, nên anh vẫn còn tình cảm vợ chồng, chị V xin ly hôn anh không nhất trí.
Căn cứ vào lời khai của chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn D, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy tình trạng hôn nhân của chị V và anh D đã xảy ra căng thẳng trầm trọng, vợ chồng đã ly thân một thời gian, không còn quan tâm đến nhau, không có quan hệ tình cảm và không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V, cho chị V và anh D được ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn D có hai con chung là cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 19/10/2005; cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 26/11/2013, chị V và anh D đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, trong quá trình giải quyết cháu M trình bày có nguyện vọng được giao cho chị V nuôi dưỡng, cháu H trình bày có nguyện vọng được giao cho anh D nuôi dưỡng. Tại phiên tòa chị V nhất trí với ý kiến của cháu M và cháu H, anh D không nhất trí theo sự nguyện vọng của hai con và đề nghị Tòa án giao cháu M và cháu H cho anh nuôi dưỡng.
Xét thấy cháu Nguyễn Thị M và cháu Nguyễn Văn H đã trên 07 tuổi và chưa đến 18 tuổi, cháu M có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu H có nguyện vọng được ở với bố. Để đảm bảo quyền và lợi ích của con trẻ trong việc giao trực tiếp người nuôi dưỡng và gắn trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng con chung, nhận thấy cần giao cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thị M, giao cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn H là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị V và anh D đều không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản, công nợ chung: Chị V và anh D đều xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử
[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
[2] Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 19/10/2005. Giao anh Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 26/11/2013.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị V và anh D có quyền thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom con của chị V và anh D.
[3] Về tài sản; công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị V đã nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí; lệ phí Tòa án số: 0004839 ngày 27/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Khoản tiền này được chuyển thành án phí.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - UBND thị trấn C; - Chi cục THADS huyện Tân Yên; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Biên |