- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc N "Ly hôn" Nguyễn Tuấn V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc N về việc "Ly hôn" với ông Nguyễn Tuấn V.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
HUYỆN BẾN LỨC
NAM
TỈNH LONG AN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
—————————— Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28-6-2024 V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thiên Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Tươi
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn V, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
(Bà N có đơn xin vắng mặt, ông V vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Tuấn V xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An ngày 08/5/2014. Cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Bà và ông V đã không còn chung sống với nhau từ tháng 3/2024 cho đến nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên yêu cầu ly hôn với ông V.
Về con chung: Bà và ông V có 01 (một) con chung tên Nguyễn Vũ Gia K, sinh ngày 27/4/2014, hiện do ông V nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà đồng ý giao cháu K cho ông V được tiếp tục nuôi dưỡng, bà tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Bà và ông V không có nợ chung.
Bị đơn ông Nguyễn Tuấn V đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Cháu Nguyễn Vũ Gia K có ý kiến trong trường hợp cha mẹ không còn chung sống với nhau thì có nguyện vọng được sống với cha.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Nguyễn Ngọc N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tuấn V. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Tuấn V đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng đều vắng mặt. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu ly hôn của bà N, Hội đồng xét xử thấy rằng;
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc N và ông Nguyễn Tuấn V xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống thì hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nay bà N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông V. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà N có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, riêng ông V vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của bà N. Từ đó, cho thấy ông V cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, cuộc sống chung của bà N và ông V đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.
Về con chung: Bà N và ông V có 01 (một) con chung tên Nguyễn Vũ Gia K, sinh ngày 27/4/2014. Sau khi ly hôn, bà N đồng ý giao cháu K cho ông V nuôi dưỡng. Ông V vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này. Xét thấy, hiện cháu K đang sống với ông V, cuộc sống đã ổn định, hơn nữa, nguyện vọng của cháu K là muốn sống với cha. Do đó, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao cháu K cho ông V được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Căn cứ Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn không chỉ là nghĩa vụ của cá nhân ông V mà còn là nghĩa vụ của bà N. Mặc dù ông V không yêu cầu nhưng bà N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Sự tự nguyện của bà N là phù hợp quy định pháp luạt nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, thời gian cấp dưỡng kể từ khi xét xử sơ thẩm cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định giữa bà và ông V không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông V vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc N về việc "Ly hôn" với ông Nguyễn Tuấn V.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc N được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn V
2. Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc N và ông Nguyễn Tuấn V có 01 (một) con chung tên Nguyễn Vũ Gia K, sinh ngày 27/4/2014. Sau khi ly hôn, ông V được quyền nuôi cháu K. Bà N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Trường hợp có yêu cầu của một bên, cả hai bên hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng là 600.000 đồng nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007269 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Bà N còn phải nộp tiếp 300.000 đồng án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn T – Nguyễn Thị Hồng Châu Cao Thiên T1
| Nơi nhận: - VKSND huyện Bến Lức. - UBND xã Long Khê, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. - Các đương sự. - Lưu HS, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thiên Trang |