- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng C - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-GIA LAI TỈNH GIA LAI ––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2026/HS-ST Ngày 29-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-GIA LAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lộc;
2. Ông Nguyễn Văn Hoà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hữu Xuân Lộc là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2026/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo:
Đặng Cung, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1979, tại: Tỉnh Gia Lai; số căn cước công dân: 052079034021, ngày cấp 28/6/2021; nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã P, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Thợ sửa chữa điện tử; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Q và bà Đào Thị T (đã chết); có vợ và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2001 và nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền sự, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Ông Hồ Văn Q1, sinh năm 1973; nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã P, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã P, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)
- Người làm chứng:
+ Ông Trần Đại L, sinh năm 1973; nơi thường trú: Thôn V, xã P, tỉnh Gia Lai; (Vắng mặt)
+ Ông Đặng Công L1, sinh năm 1984; nơi thường trú: Thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai; (Vắng mặt)
+ Ông Phan Xuân H, sinh năm 1970; nơi thường trú: Thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 25/5/2025, ông Hồ Văn Q1 điều khiển xe mô tô mang theo remote điều khiển ti vi bị hỏng đến cửa hàng điện tử “Thành Công” của ông Đặng C tại thôn V, xã P, tỉnh Gia Lai) để hỏi mua remote điều khiển tivi nhưng không có ông C ở nhà. Ông Q1 đứng đợi trước cổng nhà ông C. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, ông C về nhà thì gặp ông Q1. Tại trước cổng nhà ông C, ông Q1 hỏi “có cái remote ti vi này không bán cho cái”, ông C nói “không có cái remote này, nếu muốn mua thì để cái remote lại để lấy hàng về bán”. Lúc này, ông Q1 to tiếng nói “remoteti vi này mà không có hả mày”, tiếp đó ông C và ông Q1 to tiếng cãi nhau qua lại. Sau đó, ông C và ông Q1 dùng tay giằng co với nhau, ông C dùng tay nắm 01 tay ông Q1, tay còn lại nắm cổ áo ông Q1 kéo vào phía trong nhà ở làm ông Q1 té ngã dưới đất. Ông C ngồi đè lên người ông Q1 và tiếp tục dùng tay giằng co qua lại với ông Q1. Ngay lúc đó, ông Phan Xuân H chạy vào can ngăn. Ông C tiếp tục dùng tay trái nắm cổ áo ông Q1, tay còn lại đánh khoảng 02 cái vào vùng mặt ông Q1. Do có ông H can ngăn nên ông Q1 đứng dậy được, nhưng lúc này tay trái ông C vẫn còn nắm cổ áo ông Q1 và tiếp tục dùng tay phải đánh nhiều cái vào vùng mặt của ông Q1. Ông H ở giữa can ngăn và có thêm ông Đặng Quốc H1 và ông Trần Đại L chạy vào can ngăn nên ông C và ông Q1 giãn ra. Khi đó ông Q1 cầm cái remote điều khiển ti vi ném về phía ông C nhưng không trúng nên ông C và ông Q1 tiếp tục to tiếng qua lại. Ông H tiếp tục can ngăn thì bị ông C la chửi yêu cầu ông H đi về. Sau khi ông H đi về, ông Q1 ra phía trước đường nhà ông C đứng tiếp tục thách thức. Ông C thấy xe mô tô của ông Q1 dựng trước nhà nên dắt xe của ông Q1 vào sân mục đích để báo chính quyền địa phương việc ông Q1 đến nhà la chửi nên giữa ông C và ông Q1 tiếp tục thách thức nhau, sau đó ông Q1 vào sân dắt xe ra lại ngoài đường và tiếp tục la chửi. Trong lúc ông C đang cúi khom người kéo ống nước ngay cổng nhà thì ông Q1 chạy đến dùng chân đạp vào người và dùng tay xô đẩy ông C. Ông C dùng tay nắm kéo ông Q1 vào trong sân làm ông Q1 té ngã nằm dưới sân, ông C dùng tay trái nắm cổ áo ông Q1, dùng tay phải đánh nhiều cái vào vùng mặt, đầu của ông Q1. Lúc này, ông Đặng Công L1 chạy vào can ngăn và đẩy ông Q1 đi về, sau đó ông Q1 điều khiển xe mô tô bỏ đi về nhà. Khoảng 20 giờ cùng ngày, gia đình ông Q1 chở ông Q1 đi khám và điều trị thương tích tại Bệnh viện Đ.
Hậu quả: Ông Hồ Văn Q1 bị thương tích nhập viện điều trị tại Bệnh viên Đa khoa khu vực B từ ngày 25/05/2025 đến ngày 01/06/2025 thì xuất viện.
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 44A/KLTTCT-PYGL ngày 24/9/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh G kết luận tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Văn Q1 tại thời điểm giám định là: 16%. Cụ thể:
+ Vùng chẩm không có dấu vết. Tỷ lệ 00 %.
+ Mắt trái kết mạc trong, hết sưng, vận nhãn bình thường. Tỷ lệ 00 %.
+ Cổ không dấu vết. Tỷ lệ 00 %.
+ Bị chấn thương vào Bệnh viện Đ ghi nhận gò má trái sưng nề, bầm tím gây gãy cung tiếp gò má trái. Hiện gò má trái hết sưng, khớp cắn đúng; kết quả chụp cắt lớp vi tính hàm mặt: gãy cũ cung tiếp gò má trái đã can xương. Tỷ lệ 16%
Đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ: 01 USB màu xám nhãn hiệu HP 2GB bên trong có 06 video ghi lại diễn biến sự việc Đặng C đánh Hồ Văn Q1;
Ngày 06/02/2026, Phòng K - Công an tỉnh G có bản kết luận giám định số: 58/KL-KTHS, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video lưu trữ trong USB gửi giám định.
Về dân sự: Ông Hồ Văn Q1 yêu cầu bồi thường dân sự số tiền 79.743.987 đồng. Ông Đặng C đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKS-KV3, ngày 18/3/2026 của Viện kiểm sát nhân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai đã truy tố Đặng C ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà: Bị cáo Đặng C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Sau khi đánh gây thương tích cho bị hại Q1 thì bản thân bị cáo cũng như gia đình bị cáo nhiều lần đến gặp bị hại Q1 để thương lượng bồi thường thiệt hại nhưng bị hại Q1 không đồng ý.
Bị hại Hồ Văn Q1 xác định: Thương tích của bị hại 16% là do bị cáo C sử dụng tay, chân đánh vào chiều ngày 25/5/2025. Sau khi bị thương tích bị hại được gia đình đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đ từ ngày 25/5/2025 đến ngày 01/6/2025 thì xuất viện. Sau khi xuất viện thì bị cáo C và gia đình bị cáo C đến gặp để thương lượng bồi thường thiệt hại sức khoẻ nhưng ông Q1 không đồng ý. Bị hại Q1 yêu cầu bị cáo C bồi thường toàn bộ thiệt hại sức khoẻ với tổng số tiền 28.000.000 (Hai mươi tám triệu) đồng, nhưng được trừ số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng đã nhận trước, còn lại phải bồi thường số tiền 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng. Bị hại Q1 xác định sự việc xảy ra bản thân bị hại cũng có phần lỗi, đề nghị xét xử bị cáo C theo quy định của pháp luật.
Bị cáo C đồng ý bồi thường toàn bộ thiệt hại sức khoẻ cho bị hại Q1 với tổng số tiền 28.000.000 (Hai mươi tám triệu) đồng, nhưng được trừ số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng đã bồi thường trước, còn lại phải bồi thường thêm số tiền 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, nêu luận tội và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Đặng C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên phạt bị cáo Đặng C từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 589, 590 Bộ luật Dân sự; Điều 7 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Buộc bị cáo Đặng C bồi thường cho bị hại Hồ Văn Q1 với tổng số tiền 28.000.000 (Hai mươi tám triệu) đồng, nhưng được trừ số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng mà bị cáo C đã bồi thường cho bị hại Q1 trước, còn lại bị cáo C phải bồi thường thêm cho bị hại Q1 số tiền 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng.
Về xử lý vật chứng: Lưu giữ 01 USB màu xám nhãn hiệu HP 2GB bên trong có 06 video ghi lại diễn biến sự việc Đặng C đánh Hồ Văn Q1.
Bị cáo C: Không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị hại Q1: Không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có điều kiện làm ăn và chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên, cán bộ điều tra; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại; người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo Đặng C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại; lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử sơ thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Giữa bị cáo Đặng C và bị hại Hồ Văn Q1 có mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống thường ngày. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 25/5/2025, bị hại Hồ Văn Q1 đến cửa hàng điện tử (cũng là nhà ở) của bị cáo C thuộc thôn V, xã P, tỉnh Gia Lai để hỏi mua remote điều khiển tivi của bị cáo Đặng C thì giữa bị cáo C và bị hại Q1 xảy ra cãi vã, xô đẩy với nhau. Bị cáo Đặng C đã có hành vi dùng tay, chân đánh nhiều cái vào mặt, vào cơ thể bị hại Hồ Văn Q1. Hậu quả hành vi trên của bị cáo C đã gây tổn thương cơ thể cho bị hại Q1 với tỷ lệ thương tật 16%.
Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo C là người có đủ khả năng nhận thức được hành vi sử dụng tay, chân tác động lên cơ thể của người khác là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hậu quả do hành vi của mình thực hiện sẽ gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng đối với người khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm do chính hành vi đã gây ra.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng C đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, Cáo trạng số: 10/CT-VKS-KV3 ngày 18/3/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Đặng C theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo C không những xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần xử phạt mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nhận tội, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại. Gia đình bị cáo có công cách mạng, trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt; có nghề nghiệp và nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo cũng có thể giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, các quy tắc của cuộc sống và ngăn ngừa phạm tội mới.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hồ Văn Q1 bị thương tích được gia đình đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đ từ ngày 25/5/2025 đến ngày 01/6/2025. Tổng thời gian điều trị tại Bệnh viện là 07 ngày. Ngày 16/6/2025, bị hại thực hiện tái khám tại Phòng khám Đ1.
Tại phiên toà bị hại Q1 và bị cáo C thoả thuận thống nhất việc bồi thường như sau: Bị cáo Cung bồi thường toàn bộ thiệt hại sức khoẻ cho bị hại Q1 với tổng số tiền 28.000.000 đồng, nhưng được trừ số tiền 10.000.000 đồng đã bồi thường trước, còn lại bị cáo C phải bồi thường thêm cho bị hại Q1 số tiền 18.000.000 đồng. Xét việc thoả thuận giữa bị cáo và bị hại Q1 là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) USB màu xám nhãn hiệu HP 2GB bên trong có 06 video ghi lại diễn biến sự việc Đặng C đánh Hồ Văn Q1. Đây là tài liệu trong vụ án, nên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Về án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về đề nghị của Kiểm sát viên: Về tội danh; điều luật áp dụng; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị hình phạt đối với bị cáo và đề nghị bồi thường đều phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng C 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29 tháng 4 năm 2026).
Giao bị cáo Đặng C cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Buộc bị cáo Đặng C bồi thường toàn bộ thiệt hại sức khoẻ cho bị hại Hồ Văn Q1 với tổng số tiền 28.000.000 (Hai mươi tám triệu) đồng, nhưng được trừ số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng mà bị cáo C đã bồi thường trước cho bị hại Q1, bị cáo C còn phải bồi thường cho bị hại Q1 số tiền 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng.
4. Về xử lý vật chứng: Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (Một) USB màu xám nhãn hiệu HP 2GB bên trong có 06 video ghi lại diễn biến sự việc Đặng C đánh Hồ Văn Q1.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 (Chín trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
6.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 3-Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND tỉnh Gia Lai; - CQCSĐT-Công an tỉnh Gia Lai; - Bị cáo; - Bị hại; - Phòng THADS tỉnh Gia Lai; - Lưu VP- HSVA; - THA hình sự. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bá Tùng |