vanban.org

Bản án 42/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Lò Văn L.

Về con chung: Giao cháu Lò Văn H, sinh ngày 24/4/2008 cho chị Lò Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÒ Thị H và Lò văn L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Lò Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2026/HNGĐ- ST
Ngày: 29-01-2026
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Mai, ông Nguyễn Hữu Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Trí Danh- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2025/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2026/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2026/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Bản L, xã B, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lò Văn L, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Bản L, xã B, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lò Thị H và anh Lò Văn L kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 16/3/2010 tại Ủy ban nhân dân xã B (trước là xã P, huyện TC), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến chị anh đề nghị ly hôn với anh Lò Văn L.

Về con chung: Chị Lò Thị H và anh Lò Văn L có 02 (hai) con chung là cháu Lò Văn Tr, sinh ngày 23/3/2007 và cháu Lò Văn H, sinh ngày 24/4/2008. Hiện tại cháu Lò Văn H đang ở với chị Lò Thị H.

Cháu Lò Văn Tr đã đến tuổi trưởng thành, có khả năng lao động, không bệnh tật. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Lò Thị H có nơi cư trú ổn định. Chị Lò Thị H trồng trọt, chăn nuôi, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Chị Lò Thị H có đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Chị Lò Thị H đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lò Văn H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lò Thị H không yêu cầu anh Lò Văn L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lò Thị H cam đoan không có nợ chung.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 24/11/2025, ngoài những tài liệu, chứng cứ do chị Hoán đã giao nộp, chị Hoán không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.

Tại biên bản xác minh ngày 20/11/2025 tại Bản L, xã B, tỉnh Sơn La, chị Lò Thị H và anh Lò Văn L có hộ khẩu thường trú tại Bản L, xã B, tỉnh Sơn La, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thuận, tỉnh Sơn La. Trong quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn không nắm rõ. Hiện nay chị Lan và anh Hoán đã sống ly thân. Chị Lò Thị H và anh Lò Văn L có 02 (hai) con chung là cháu Lò Văn Tr, sinh ngày 23/3/2007 và cháu Lò Văn H, sinh ngày 24/4/2008. Hiện tại cháu Lò Văn H đang ở với chị Lò Thị H. Cháu Lò Văn Tr đã đến tuổi trưởng thành, có khả năng lao động, không bệnh tật. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.

Bị đơn anh Lò Văn L đã được triệu tập hợp lệ, giao thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án nhân dân khu vực 2-Sơn La. Anh Lò Văn L không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không viết bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải.

Chị Lò Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Hoán giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.

Tại biên bản ghi ý kiến, cháu Lò Văn H có nguyện vọng là ở với mẹ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện không đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật sửa đổi bổ sung năm 2025); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Lò Văn L.

Về con chung: Giao cháu Lò Văn H, sinh ngày 24/4/2008 cho chị Lò Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lò Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lò Thị H không yêu cầu).

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lò Thị H, anh Lò Văn L không có nợ chung.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lò Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị H yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lò Văn L có địa chỉ tại Bản L, xã B, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật sửa đổi bổ sung năm 2025).

Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Lò Thị H, bị đơn anh Lò Văn L: Nguyên đơn chị Lò Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn anh Lò Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ ba vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị H và anh Lò Văn L kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 16/3/2010 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thuận (trước là xã Phổng Lái, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Lò Thị H và anh Lò Văn L đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Hoán cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Lò Văn L.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hoán và anh Lan lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Lò Văn L. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Lò Thị H và anh Lò Văn L có 02 (hai) con chung là cháu Lò Văn Tr, sinh ngày 23/3/2007 và cháu Lò Văn H, sinh ngày 24/4/2008. Hiện tại cháu Lò Văn H ở với chị Lò Thị H.

Cháu Lò Văn Tr đã đến tuổi trưởng thành, có khả năng lao động, không bệnh tật. Không yêu cầu Tòa án giải quyết là có căn cứ đúng pháp luật.

Chị Lò Thị H đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lò Văn H.

Chị Hoán, anh Lan đều có nơi cư trú ổn định. Chị Lò Thị H trồng trọt, chăn nuôi, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Chị Lò Thị H có đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Ý kiến cháu Lò Văn H có nguyện vọng là ở với mẹ.

Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý, cần giao cháu Lò Văn H, sinh ngày 24/4/2008 cho chị Lò Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lò Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lò Thị H không yêu cầu).

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lò Thị H, anh Lò Văn L không có nợ chung.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lò Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Lò Văn L.

2. Về con chung: Giao cháu Lò Văn H, sinh ngày 24/4/2008 cho chị Lò Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lò Thị H không yêu cầu).

4. Về tài sản chung: Không có.

5. Về tài sản riêng: Không có.

6. Về nợ chung: Chị Lò Thị H và anh Lò Văn L không có nợ chung.

7. Về án phí: Chị Lò Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000596, ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.

8. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị H, anh Lò Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ