vanban.org

Bản án 42/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 22/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn B 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2025. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Võ Việt K đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HS-ST
Ngày: 22 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Đoàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng

Bà Đỗ Kim Phụng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phú Thanh Thiện, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tăng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2025/TLST-HS, ngày 26 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS, ngày 6 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Đỗ Văn B, sinh ngày 01/01/1998; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 2/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Văn H, sinh năm 1976 và bà Lâm Thị T, sinh năm 1976; Bị cáo chưa có vợ. Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 lần. Ngày 6/02/2024 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành xong, chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2024 đến ngày 26/02/2025 bị bắt tạm giam cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Võ Việt K, sinh năm 1978 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng hơn 04 giờ ngày 10/6/2024 Đỗ Văn B đã có hành vi lén lúc vào vuông tôm của ông Võ Việt K tại ấp T, xã L để đặt lộp trộm cua và đã có 05 con cua biển vào lộp của Bằng trị giá 150.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá số 37/HĐ ngày 16/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 05 con cua biển trọng lượng 01kg có giá trị 150.000 đồng

Cáo trạng số: 38/CT-VKS-HS, ngày 25/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Đỗ Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54, Điều 15, Điều 38, khoản 3, Điều 57 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 đến 05 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 13 cái lộp cua, 01 cái thùng nhựa màu trắng. Án phí bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: bị hại ông Võ Việt K đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu. Ông đề nghị xét xử bị cáo đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét lời khai nhận của bị cáo Đỗ Văn B tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 9/6/2024 B lấy 13 cái lộp cua và đem đến vuông của ông Võ Việt K gần nhà ở ấp T, xã L Tây thả xuống rồi đi về nhà. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 10/6/2024 bằng đem theo một thùng nhựa và 01 đoạn cây gỗ đến vuông của ông K để dỡ lộp đặt cua. Lúc này ông K phát hiện, truy hô nên B bỏ chạy nhưng bị người dân khống chế và bắt lại. Sau đó, B chỉ vị trí đặt 13 cái lộp, dỡ lên thì có 05 con cua biển.

Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố, dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng hành vi bị cáo đã thực hiện.

. Bị cáo Đỗ Văn B là người đã thành niên, có đủ khả năng để nhận thức hành vi lén lút đặt trộm của ông Võ Việt K là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh, an toàn tại địa phương, làm cho người dân hoang mang. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản trái phép của người khác bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì lòng tham mà bị cáo cố ý thực hiện.

. Xét thấy hành vi trái pháp luật của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răng đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Võ Việt K đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì thêm

. Xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, mức mình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác có liên quan trong vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54, Điều 15, Điều 38, khoản 3, Điều 57của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn B 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2025.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Võ Việt K đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoảng 2, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 13 cái lộp cua tôm đã qua sử dụng; 01 cái thùng nhựa màu trắng. (Vật chứng trên đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 7/5/2025.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Văn B phải nộp 200.000 đồng.

5. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ