vanban.org

Bản án 42/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo: Quàng Văn Tới 01 năm 06 tháng tù; tổng hợp 02 năm tù tại

01 (một) áo phông cổ tròn màu đen, phía trước có nhiều họa tiết màu trắng. (Theo đúng Biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tới - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo: Quàng Văn Tới 01 năm 06 tháng tù; tổng hợp 02 năm tù tại
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HS-ST
Ngày 30 tháng 10 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu và bà Nguyễn Thị Quỳnh Chúc.

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Quang Huy, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8

- Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Quàng Văn Tới, sinh năm 2006;

HKTT: Bản Có Líu, xã Nậm Lầu, tỉnh Sơn La.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kháng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn Dẫn, sinh năm 1983 và bà Lò Thị Xoa, sinh năm 1986; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 02/02/2024, bị TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, điều 173 BLHS (thời điểm phạm tội dưới 18 tuổi). Bị cáo Tới chấp hành xong án phạt tù ngày 05/9/2024.

Ngày 22/9/2025, bị Toà án nhân dân khu vực 4-Hưng Yên xử 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Khoái Châu, Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Hưng Yên theo Quyết định tạm giam số 45 ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hưng Yên (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu, sinh năm 1993 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn Liễn Thượng, phường Nhân Hoà, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/7/2025, Công an phường Nhân Hoà, tỉnh Bắc Ninh nhận được trình báo của chị Nguyễn Thị Thu, sinh năm 1993, HKTT: khu phố Liễn Thượng, phường Nhân Hòa, tỉnh Bắc Ninh về việc ngày 29/6/2025 khi để 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng, BKS 99E1-306.58 trong hốc xe mô tô đỗ tại khu vực chợ trung tâm thuộc khu phố 1, phường Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh bị kẻ gian lấy trộm.

Ngày 31/7/2025, Công an xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên có Công văn số 89/CV-CAX đề ngày 25/7/2025 về việc cung cấp thông tin: Qua điều tra vụ án trộm cắp tài sản xảy ra ngày 30/06/2025 tại thôn Ngọc Bộ, xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, bị can Quàng Văn Tới, sinh năm: 2006, nơi thường trú: bản Có Líu, xã Nậm Lầu, tỉnh Sơn La, hiện đang trọ tại xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên khai nhận ngày 29/6/2025, Tới còn thực hiện vụ trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển số 99E1-306.58 tại khu phố Liễn Thượng, phường Nhân Hòa, tỉnh Bắc Ninh.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo và chứng cứ, tài liệu do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh thu thập có trong hồ sơ vụ án xác định:

Khoảng 15 giờ ngày 29/6/2025, Quàng Văn Tới, đi chiếc xe máy điện màu đen một mình đến khu dân cư của khu phố Liễn Thượng, phường Nhân Hòa, tỉnh Bắc Ninh với mục đích xem ai có tài sản sơ hở để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khi đi đến nhà chị Nguyễn Thị Thu là nhà được sơn màu xanh, bắn mái tôn, cổng bằng kim loại, trong sân lát gạch màu đỏ, Tới quan sát thấy trong sân nhà có chiếc xe mô tô Honda Lead màu vàng, BKS: 99E1-306.58, đầu xe hướng vào phía trong nhà, trên ổ khóa xe vẫn cắm chìa khóa điện. Thấy xung quanh không có ai, Tới dựng chiếc xe máy điện ở ngoài và tiến lại gần cổng, trèo qua tường đi vào trong sân. Sau đó, Tới lại gần chiếc xe mô tô, rút chìa khóa xe và cầm chùm chìa khóa ra phía cổng, lấy chìa khóa mở khóa cổng để đi ra nhưng không mở được nên Tới quay lại. Quan sát thấy ở phía nhà bên cạnh thông với nơi để chiếc xe đang mở cổng và có lối đi có thể đi được, Tới quay lại vị trí để xe, cắm chìa khóa xe và nổ máy, điều khiển xe đi qua nhà bên cạnh đi thẳng về thôn Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên và bỏ lại chiếc xe máy điện lại.

Sau đó, Tới đến nhà nghỉ Sao Mai, ở xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên và gặp Lò Văn Nhẫn, sinh năm 2006 là bạn cùng quê với Tới đang làm ở xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, Tới gặp Lò Thị Ly, sinh năm 2005, HKTT: Thôm Mòn, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La đang ở cùng với Nhẫn. Buổi tối cùng ngày, Nhẫn có hỏi mượn chiếc xe BKS 99E1-306.58 của Tới để đi ăn, Tới đồng ý. Buổi tối ngày 29/6/2025, Tới ở lại phòng nghỉ của Nhẫn và Ly. Đến khoảng 10 giờ ngày 30/6/2025, Tới tiếp tục đi bộ đến các khu vực dân cư xung quanh để xem có tài sản sơ hở thì trộm cắp tài sản. Đến hơn 13 giờ cùng ngày, Tới đến một nhà dân ở thôn Ngọc Bộ, xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên trộm cắp 01 xe mô tô thì bị người dân phát hiện và bắt quả tang.

Ngày 03/7/2025, Quàng Văn Tới bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hưng Yên khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội trộm cắp tài sản.

Sau khi Tới bị bắt, Lò Văn Nhẫn xem thông tin trên mạng và phát hiện chiếc xe mà Nhẫn đã mượn Tới là chiếc xe mà Tới trộm cắp mà có. Nhẫn tìm thông tin chủ phương tiện. Đến ngày 09/7/2025, Nhẫn thuê anh Phạm Văn Hải sinh năm 1983, HKTT: Thôn Phù Lưu Hạ, xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội làm dịch vụ vận tải chuyển trả lại chiếc xe mô tô BKS 99E1-306.58 cho chị Thu. Cùng ngày, anh Hải đã chuyển lại chiếc xe trên cho chị Thu. Ngày 31/7/2025, chị Thu tự nguyện giao nộp chiếc xe trên và 01(một) chiếc xe máy điện màu đen của Quàng Văn Tới để ở trước cổng nhà chị Thu cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh.

Trên cơ sở Yêu cầu định giá tài sản của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh, tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận: “01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu vàng, sản xuất năm 2016, đã qua sử dụng thời điểm ngày 29/06/2025 có giá trị 13.666.666đ (Mười ba triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng)”

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh, tại Bản kết luận giám định số: 2224/KL-KTHS ngày 03/09/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

“+ Số máy, số khung của xe mô tô gửi giám định không bị tẩy xóa, không bị đóng lại. Hàng chữ số: JF45E-0669523 đóng trên thân máy và hàng chữ số: RLHJF4516FY623080 đóng trên khung xe là nguyên thủy.

+ Số máy của xe máy điện gửi giám định không bị tẩy xóa, không bị đóng lại, hàng chữ số: 48V350WCYB2209 đóng trên thân máy là nguyên thủy; không tìm thấy vị trí đóng số khung trên xe máy điện gửi giám định”.

Quá trình điều tra bị cáo Quàng Văn Tới đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 81/CT-VKSKV8 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh, truy tố bị cáo Tới về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Quá trình xét hỏi tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Tới phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm r, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56 BLHS.

Xử phạt: Quàng Văn Tới từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù, tổng hợp 02 năm tù tại bản án số 36 ngày 22/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4-Hưng Yên về tội “Trộm cắp tài sản” buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt cho cả 2 bản án là từ 3 năm 06 tháng tù đến 3 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2025.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc xe máy điện màu đen.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) quần bò dài màu đen có xước ở phía trước, đã qua sử dụng;

- 01 (một) áo phông cổ tròn màu đen, phía trước có nhiều họa tiết màu trắng.

Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Trong phần tranh luận:

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt.

Bị cáo nhận thấy bị Toà án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại chị Nguyễn Thị Thu vắng mặt, đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt không ảnh hưởng tới việc xét xử vì vậy Hội đồng xét xử vắng mặt bị hại theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản xác định hiện trường, phù hợp vật chứng thu giữ, với thời gian, địa điểm, lời khai bị hại, người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng hơn 15 giờ ngày 29/6/2025, tại nhà chị Nguyễn Thị Thu, sinh năm 1993, ở khu phố Liễn Thượng, phường Nhân Hoà, tỉnh Bắc Ninh, Quàng Văn Tới đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 99E1-306.58 có trị giá 13.666.666 đồng của chị Nguyễn Thị Thu. Hiện tài sản đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Quàng Văn Tới đã phạm tội ''Trộm cắp tài sản'' theo khoản 1, điều 173 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp công dân, được pháp luật bảo vệ, gây mất gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải đưa bị cáo ra xét xử kịp thời và có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Bị cáo Tới là người có nhân thân xấu, ngày 02/02/2024, bị TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, điều 173 BLHS. Ngày 22/9/2025, bị Toà án nhân dân khu vực 4-Hưng Yên xử 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đối với bản án năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xử bị cáo, thời điểm phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi và bản án của Toà án nhân dân khu vực 4-Hưng Yên xử bị cáo đối với hành vi xảy ra sau hành vi tại phường Nhân Hoà, tỉnh Bắc Ninh nên với 2 bản án trên bị cáo không được coi là người có tiền án.

Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo bị bắt tại Hưng Yên và tự thú về hành vi phạm tội của mình tại Phường Nhân Hoà, bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 BLHS. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh là phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy:

Cần thiết phải xử bị cáo một mức án tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung, giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật.

Đối với bản án bản án số 36 ngày 22/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4-Hưng Yên xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến nay đã có hiệu lực pháp luật nên cần tổng hợp hình phạt theo quy định tại điều 56 BLHS, buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt cho cả 2 bản án.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích lấy tiền ăn tiêu, lẽ ra ngoài hình phạt chính cần phạt bổ sung một khoản tiền đối với bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật; tuy nhiên bị cáo không có nghề nghiệp ổn định sống cùng gia đình, không có tài sản riêng gì, là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ cận nghèo vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo như lời đề nghị của VKS là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Nguyễn Thị Thu đã nhận được tài sản đầy đủ, không có ý kiến yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 (một) chiếc xe máy điện màu đen bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 (một) quần bò dài màu đen có xước ở phía trước, đã qua sử dụng; 01 (một) áo phông cổ tròn màu đen, phía trước có nhiều họa tiết màu trắng là quần áo bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Liên quan trong vụ án:

- Đối với anh Lò Văn Nhẫn là người mượn chiếc xe mà Quàng Văn Tới đã trộm cắp của chị Nguyễn Thị Thu. Khi mượn xe Tới không nói cho anh Nhẫn biết, anh Nhẫn không biết đây là xe do Tới phạm tội mà có. Sau khi biết chiếc xe là xe của chị Nguyễn Thị Thu, anh Nhẫn đã trả lại chiếc xe cho chị Thu. Do đó, Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý đối với anh Nhẫn là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ cận nghèo, tại phiên toà bị cáo xin miễn án phí nên miễn án phí HSST sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Tới phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm r, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56 BLHS.

Xử phạt bị cáo: Quàng Văn Tới 01 năm 06 tháng tù; tổng hợp 02 năm tù tại bản án số 36 ngày 22/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4-Hưng Yên về tội “Trộm cắp tài sản” buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt cho cả 2 bản án là 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc xe máy điện màu đen.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) quần bò dài màu đen có xước ở phía trước, đã qua sử dụng;

- 01 (một) áo phông cổ tròn màu đen, phía trước có nhiều họa tiết màu trắng.

(Theo đúng Biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Bắc Ninh ngày 03/10/2025).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ