- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Chí C và Trần Văn Đ cố ý gây thương tích cho ông Phạm Quang H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người k…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Chí C và Trần Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2025/HS-ST Ngày 11-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Tuấn Đạt và ông Nguyễn Hữu Phúc.
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Trần Văn Đ - Sinh năm 1965, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số 682, ấp 5, xã Phú Điền, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đỉnh (đã chết) và bà Lê Thị Thanh (đã chết); vợ là bà Mai Lệ Th – sinh năm 1966; con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không. Bị cáo bị áp dụng cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/10//2024 đến nay (có mặt).
2. Trần Chí C- Sinh năm 1995, tại Đồng Nai; nơi cư trú: số 682, ấp 5, xã Phú Điền, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ - 1965 và bà Mai Lệ Th – 1966 ; vợ là chị Trần Thị Tuyết V – sinh năm 1997; con: có 01 con, sinh năm 2024; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 10/10/2024 đến ngày 14/11/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh đến nay (có mặt).
- Bị hại: ông Phạm Quang H - sinh năm 1968; nơi cú trú: ấp 3, xã Phú Hòa, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Người làm chứng: anh Lê Văn D, anh Đoàn Minh Đ2 (tất cả có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn Đ và ông Phạm Quang H có mâu thuẫn nhau từ việc tháo nước vào ruộng dẫn đến xô xát đánh nhau.
Khoảng 09 giờ ngày 17/7/2024, Trần Văn Đ cùng con ruột Trần Chí Cđi thăm ruộng tại ấp 4, xã P huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khi đến nơi, Trần Chí Cthấy ông Phạm Quang H đang phun thuốc trừ sâu liền đi đến hỏi nguyên nhân đánh nhau giữa ông Hiến và ông Trần Văn Định. Liền đó, giữa Trần Chí Cvà ông Phạm Quang H xảy ra cự cãi rồi Cường dùng tay đánh ông Hiến té ngã xuống ruộng. Tiếp đó, Cường lao đến dùng tay đánh liên tiếp nhiều cái vào đầu, mặt ông Hiến gây thương tích. Trong lúc xảy ra đánh nhau, Trần Văn Đ đừng đứng bên ngoài xúi dục Trần Chí Cđánh ông Phạm Quang Hiến. (bút lục 88-94; 104-111; 122-128)
Ngày 12/8/2024, ông Phạm Quang H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Hậu quả:
- Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0856/KLTTCT-TTPYĐN ngày 28/8/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận: Thương tích của ông Phạm Quang H gồm: Sẹo trán phải ngoài chân tóc kích thước nhỏ; Vỡ lún xoang trán phải; Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: 12% (mười hai phần trăm); Vật gây thương tích: Vật tày. (bút lục 37 - 39)
- Tại bản kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0876/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 12/9/2024 của trung pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận: Ông Phạm Quang H có 06 vết thương tại các vùng trán, mắt, má, vành tai, bả vai do vật tày tác động với lực nhẹ và 01 vết thương trán phải # 02 cm, vỡ lún thành trước xoang trán phải do vật tày tác động với lực tương đối mạnh gây nên; Các tổn thương của ông Phạm Quang H thuộc loại cấp cứu có trì hoãn, ngay lập tức không dẫn đến tử vong. (bút lục 40-41)
Vật chứng thu giữ trong vụ án: Không.
Tại cáo trạng số 36/CT-VKSTP - ĐN ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố các bị cáo Trần Chí C và Trần Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố; sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo, biện pháp tư pháp và các vấn đề khác trong vụ án, cụ thể như sau:
Căn cứ khoản 1, Điều 134; điểm b, i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo: Trần Chí C từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo cộng thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng; và xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 06 tháng đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo cộng thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Trần Chí C, Trần Văn Đ và bị hại Phạm Quang H đã tự thỏa thuận bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên không xét.
Về các vấn đề khác trong vụ án: Trong quá trình điều tra, bị hại Phạm Quang H cho rằng: Bị cáo Trần Chí C có hành vi dùng mũ bảo hiểm đánh gây thương tích. Căn cứ lời khai bị cáo Trần Chí C, bị cáo Trần Văn Đ, lời khai người làm chứng Đoàn Minh Đ2, Lê Văn D, bản kết luận giám định pháp y về thương tích, tại phiên tòa ông H khẳng định cáo trạng mô tả diễn biến sự việc và hành vi của các bị cáo là chính xác, nên có cơ sở chứng minh rằng Trần Chí C là người thực hiện hành vi dùng tay đánh ông Phạm Quang H gây thương tích.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, các bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với các bị cáo và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trình tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa thể hiện: Vào khoảng 09 giờ ngày 17/7/2024, tại khu vực ruộng lúa thuộc ấp 4, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trần Chí C, Trần Văn Đ đã có hành vi dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt và trán của ông Phạm Quang H gây thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 12%.
Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận cáo trạng số 36/CT-VKSTP - ĐN ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố các bị cáo Trần Chí Cvà Trần Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình là có căn cứ.
Như vậy, hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, mà còn coi thường pháp luật. Các bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực nhận thức về hậu quả của hành vi sai trái do mình gây ra nhưng vì mâu thuẫn mà không kiểm soát được hành vi dẫn đến việc phạm tội. Từ đó Hội đồng xét xử xét thấy cần phải đưa ra xét xử về hành vi phạm tội của các bị cáo và phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi hậu quả xảy ra các bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, những tình tiết nêu trên được quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và đều là lao động chính trong gia đình; bị cáo C có con còn nhỏ; bị cáo Đ là bộ đội xuất ngũ, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai tặng Bằng khen “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi” và Bằng khen “Nông dân điển hình tiên tiến tỉnh Đồng Nai” những tình tiết nêu trên thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, hội đồng xét xử nhận thấy thấy hành vi, tính chất mức độ thiệt hại do các bị cáo gây ra thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có khả năng tự cải tạo giáo dục bản thân để trở thành công dân tốt, đồng thời có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần xử hình phạt tù cho hưởng án treo cộng với thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội, đồng thời cũng đảm bảo các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Mặt khác, vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, thương tích các bị cáo gây ra cho bị hại là 12% ở mức khởi điểm, các bị cáo có mối quan hệ cha con ruột, bị cáo Cường có vai trò là người thực hành còn bị cáo Định có vai trò là người xúi dục, nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Cường phải cao hơn bị cáo Định.
Về xử lý vật chứng: không.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 102.648.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Trong quá trình điều tra, bị hại Phạm Quang H cho rằng: Bị cáo Trần Chí Ccó hành vi dùng mũ bảo hiểm đánh gây thương tích. Căn cứ lời khai bị cáo Trần Chí C, bị cáo Trần Văn Đ, lời khai người làm chứng Đoàn Minh Đ2, Lê Văn D, bản kết luận giám định pháp y về thương tích, tại phiên tòa ông Hiến khẳng định cáo trạng mô tả diễn biến sự việc và hành vi của các bị cáo là chính xác, nên có cơ sở chứng minh rằng Trần Chí C là người thực hiện hành vi dùng tay đánh ông Phạm Quang H gây thương tích.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về đề nghị về tội danh đối với bị cáo, hình phạt tù giam, xử lý vật chứng, phần trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác.
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Chí C và Trần Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Căn cứ khoản 1, Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Xử phạt bị cáo Trần Chí C 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Chí Cvà Trần Văn Đ về cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
- Các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Chí C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, bị hại cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tân Phú; - Công an tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THA dân sự Tân Phú; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Tuấn |