vanban.org

Bản án 42/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Nhựt T. Về con chung: Công nhận bà X và ông T có 01 con chung tên là Nguyễn Nhật K-13/12/2011. Giao cháu K cho bà X tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xinh-Tân"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21-5-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Sáu Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đoàn Sơn Lâm; 2. Ông Ngô Hoàng Bá.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Ngọc– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Lê Tấn Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị X-1993-Yêu cầu vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Nhựt T-1990-Yêu cầu vắng mặt.

Cùng địa chi: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị X trình bày: Bà X và ông T do quen biết nhau, tự nguyện chung sống như vợ chồng vào đầu năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V vào ngày 31/8/2013. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng ly thân khoảng 13 năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay gây gỗ, cự cải nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục sống chung nên bà X yêu cầu ly hôn với ông T. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Nhật K-13/12/2011, bà X yêu cầu nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 12/5/2025, bị đơn ông Nguyễn Nhựt T trình bày: Ông và bà X tự quen biết nhau, tự nguyện chung sống như vợ chồng vào đầu năm 2000, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V vào ngày 31/8/2013. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn và ly thân khoảng 13 năm nay. Từ khi ly thân đến nay, vợ chồng không có biện pháp hàn gắn tình cảm. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay gây gỗ, cự cải nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay ông T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà X để trả tự do cho nhau. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Nhật K-13/12/2011, ông T đồng ý giao con chung cho bà X nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tòa án triệu tập hợp lệ ông T nhiều lần đến Tòa để tham gia giải quyết vụ án nhưng ông T đi lại khó khăn nên không đến Tòa án được. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được nên vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Chấp nhận cho bà X được ly hôn với ông T. Về con chung: Giao cháu K cho bà X nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xét hôn nhân của bà X và ông T là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà X và ông T xác định vợ chồng đã có một thời gian chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân khoảng 13 năm nay. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay gây gỗ, cự cải nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng không còn quan tâm, lo lắng cho nhau, không có biện pháp hàn gắn tình cảm nên bà X yêu cầu ly hôn với ông T. Ông T cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà X. Điều này, cho thấy mâu thuẫn giữa ông bà trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận cho X được ly hôn với ông T là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà X và ông T xác định có 01 con chung tên là Nguyễn Nhật K-13/12/2011, bà X yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T cũng đồng ý giao con chung cho bà X nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự thống nhất thỏa thuận của đương sự nghĩ nên công nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cháu K cho bà X tiếp tục nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

Xét lời phát biểu của Viện kiểm sát là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 53, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14; quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Nhựt T.

Về con chung: Công nhận bà X và ông T có 01 con chung tên là Nguyễn Nhật K-13/12/2011. Giao cháu K cho bà X tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T không ai được cản trở. Bà X và ông T có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị X phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003943 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, công nhận bà X đã nộp xong.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ