- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NGAN HANG VCB - CAO ĐUC T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2025/DS-ST Ngày 08 - 8- 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Minh Lý
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15
- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N2; địa chỉ trụ sở: Số A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là phường H, Thành phố Hà Nội).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Hữu T; ông Phạm Nhật P; ông Mai Thanh H; bà Bùi Thị Kim N; địa chỉ liên hệ (nhận văn bản): Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 - C. Số 185-187 Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 31/12/2024). Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Số A đường Y, Tổ G, Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 – Chi nhánh B đã cấp tín dụng cho ông Nguyễn Đức T1 với hình thức cho vay tín chấp theo Hợp đồng tín dụng số 316D16/CN/CNV2 ngày 16/9/2016, số tiền vay là 90.000.000 đồng. Mục đích vay: Tiêu dùng hợp pháp phục vụ đời sống cá nhân và gia đình. Thời hạn vay 31 tháng. Lãi suất cho vay được điều chỉnh theo thông báo của bên cho vay trong từng thời kỳ, tại thời điểm cho vay là 11.5%.
Ngày 16/9/2016, Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 đã giải ngân cho ông Nguyễn Đức T1 số tiền 90.000.000 đồng. Thời hạn khoản vay đến hết ngày 16/4/2019. Từ ngày 19/6/2018 ông Nguyễn Đức T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, khoản vay của ông Nguyễn Đức T1 đã chuyển sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 08/8/2025, ông Nguyễn Đức T1 đã trả được nợ gốc là 68.396.641 đồng và còn nợ số tiền gốc 21.603.359 đồng và nợ lãi là 26.645.491 đồng (trong đó lãi trong hạn là 18.115.108 đồng và lãi phạt trên nợ gốc quá hạn là 8.530.383 đồng).
Vì vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
1. Buộc ông Nguyễn Đức T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 số tiền nợ tính đến ngày 08/8/2025 là 48.248.850 đồng, gồm: Nợ gốc: 21.603.359 đồng. Nợ lãi: 26.645.491 đồng (trong đó lãi trong hạn là 18.115.108 đồng và lãi phạt trên nợ gốc quá hạn là 8.530.383 đồng).
2. Buộc ông Nguyễn Đức T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 tiền lãi phát sinh từ ngày 09/8/2025 trở đi đối với số tiền còn nợ theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 316D16/CN/CNV2 ngày 16/9/2016 cho đến ngày trả hết nợ.
Nguyên đơn giao nộp các tài liệu chứng cứ sau: Điều lệ; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần; Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh; Quyết định bổ nhiệm; Giấy uỷ quyền; CCCD; Hợp đồng tín dụng, Giấy đề nghị rút vốn kiêm giấy nhận nợ số 01, Lịch trả nợ; Biên bản làm việc, Thông báo đề nghị thanh toán nợ quá hạn, Bảng tính lãi.
2. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn.
Tại phiên tòa,
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết:
1. Buộc ông Nguyễn Đức T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 số tiền nợ tính đến ngày 08/8/2025 là 48.248.850 đồng, gồm: Nợ gốc: 21.603.359 đồng. Nợ lãi: 26.645.491 đồng (trong đó lãi trong hạn là 18.115.108 đồng và lãi phạt trên nợ gốc quá hạn là 8.530.383 đồng).
2. Buộc ông Nguyễn Đức T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 tiền lãi phát sinh từ ngày 09/8/2025 trở đi đối với số tiền còn nợ theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 316D16/CN/CNV2 ngày 16/9/2016 cho đến ngày trả hết nợ.
- Bị đơn vắng mặt không có lý do.
- Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật: Ngày 31 tháng 12 năm 2024, Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 có đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức T1 phải trả số tiền vay và lãi suất theo hợp đồng tín dụng nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Về thẩm quyền: Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Đức T1, đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại thời điểm thụ lý, bị đơn ông Nguyễn Đức T1 đang cư trú tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại phiên toà, bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 316D16/CN/CNV2 ngày 16/9/2016 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 – Chi nhánh B và ông Nguyễn Đức T1 có thỏa thuận với nhau về việc cấp tín dụng cho ông Nguyễn Đức T1 để tiêu dùng, hạn mức tín dụng là 90.000.000 đồng.
Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự trong hợp đồng cấp tín dụng là tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội và phù hợp quy định của pháp luật nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết. Do đó, hợp đồng phát sinh hiệu lực đối với các bên.
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 xác định do bị đơn ông Nguyễn Đức T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần N2, từ đó dẫn đến phát sinh tranh chấp. Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức T1 phải trả số tiền nợ vay tính đến ngày 08/8/2025 là 48.248.850 đồng, gồm: Nợ gốc: 21.603.359 đồng. Nợ lãi: 26.645.491 đồng (trong đó lãi trong hạn là 18.115.108 đồng và lãi phạt trên nợ gốc quá hạn là 8.530.383 đồng) và lãi phát sinh từ ngày 09/8/2025 đối với số tiền còn nợ theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 316D16/CN/CNV2 ngày 16/9/2016 cho đến ngày trả hết nợ.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Đức T1 trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, xem như ông Nguyễn Đức T1 đã từ bỏ quyền chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Đức T1. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét thấy, trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Đức T1 đã không thanh toán tiền nợ gốc, lãi cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 theo đúng thoả thuận. Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 đã nhiều lần thông báo nhắc nợ, nhưng ông Nguyễn Đức T1 vẫn không trả nợ là đã vi phạm thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng số 316D16/CN/CNV2 ngày 16/9/2016 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 và ông Nguyễn Đức T1. Từ ngày 19/6/2018 khoản nợ của ông Nguyễn Đức T1 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 đã chuyển sang nợ quá hạn.
Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức T1 phải trả số tiền nợ tính đến ngày 08/8/2025 là 48.248.850 đồng, gồm: Nợ gốc: 21.603.359 đồng. Nợ lãi: 26.645.491 đồng (trong đó lãi trong hạn là 18.115.108 đồng và lãi phạt trên nợ gốc quá hạn là 8.530.383 đồng) là có căn cứ chấp nhận, phù hợp quy định tại các điều 280, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụngnăm 2010, sửa đổi sung năm 2017.
Từ ngày 09/8/2025 cho đến khi trả hết khoản nợ, ông Nguyễn Đức T1 còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 tiền lãi theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 316D16/CN/CNV2 ngày 16/9/2016.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 đối với bị đơn ông Nguyễn Đức T1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
. Tại phiên tòa, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
. Về chi phí tố tụng: Chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự): Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 phải chịu toàn bộ số tiền 3.645.000 đồng.
. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí đối với số tiền nguyên đơn được chấp nhận, tương đương án phí là 2.412.443 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 đối với bị đơn ông Nguyễn Đức T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
1.1 Buộc ông Nguyễn Đức T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 số tiền nợ tính đến ngày 08/8/2025 là 48.248.850 đồng. Gồm: Nợ gốc: 21.603.359 đồng. Nợ lãi: 26.645.491 đồng (trong đó lãi trong hạn: 18.115.108 đồng, lãi phạt quá hạn 8.530.383 đồng).
1.2 Ông Nguyễn Đỗ Đức T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 tiền lãi từ ngày 09/8/2025 trở đi theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 316D16/CN/CNV2 ngày 16/9/2016 cho đến khi trả hết nợ.
2. Về chi phí tố tụng: Chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự): Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 phải chịu toàn bộ số tiền 3.645.000 đồng đồng (ba triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Đức T1 phải chịu án phí là 2.412.443 đồng (hai triệu bốn trăm mười hai nghìn bốn trăm bốn mươi ba đồng).
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 số tiền 1.152.000 đồng (một triệu một trăm năm mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0009114, ngày 07/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Minh Nga THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh N1 |