- Tranh chấp gì? án hình sự — "Làm giả tài liệu của cơ quan - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ ch…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Công T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2024/HS-ST. Ngày 25 - 3 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn Minh và bà Nguyễn Thị Huê. Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Nhung - Là Thƣ ký của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 11/2024/HSST-QĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Công T, sinh năm 1996 tại Hà Nam; nơi cƣ trú: thôn N, xã TH, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn B và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chƣa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; hiện đang đƣợc tại ngoại tại địa phƣơng theo Lệnh Cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; có mặt.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Đinh Thị T1, sinh năm 1988; trú tại: thôn LX, xã TS, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Do có nhu cầu làm giấy phép lái xe, nên ngày 01/4/2023, Trần Công T đã nhắn tin Messenger cho tài khoản Facebook “Thanh Huyền - GPLX” hỏi thủ tục làm giấy phép lái xe thì đƣợc ngƣời này nhắn tin trả lời làm bằng A1 xe mô tô trọn gói với số tiền 1.200.000đ bao gồm đầy đủ thủ tục hồ sơ, khám sức khỏe và thi hộ, khi nào có bằng thì sẽ gửi về, kiểm tra rồi mới thanh toán tiền. Ngƣời này hƣớng dẫn T thủ tục đăng ký gồm chụp ảnh hai mặt chứng minh nhân dân, chụp ảnh chân dung, địa chỉ, số điện thoại ngƣời nhận, địa chỉ nhận. T đã nhắn địa chỉ và số điện thoại của mình cho ngƣời này. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, thì có tài khoản zalo tên “Lê Văn Hùng” kết bạn với tài khoản zalo tên “Co Don Vi Ai” của T hƣớng dẫn T gửi thủ tục để làm giấy phép lái xe mô tô. T đã chụp ảnh hai mặt căn cƣớc công dân và chụp ảnh chân dung của mình gửi đến tài khoản “Lê Văn Hùng”, sau đó ngƣời này gửi lại thông tin cá nhân của T cho T kiểm tra rồi hẹn 6 đến 10 ngày sau thì sẽ nhận bằng.
Khoảng 19 giờ ngày 06/4/2023, T đƣợc nhân viên bƣu điện chuyển cho một phong thƣ chuyển phát nhanh, T đã thanh toán số tiền 1.200.000đ cho nhân viên bƣu điện. Khi T mở phong thƣ ra kiểm tra thì bên trong có 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số: 350235969699 đề ngày 05/04/2023 mang tên TRẦN CÔNG T; 01 Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe mang tên TRẦN CÔNG T; 01 Giấy khám sức khỏe của ngƣời lái xe (để trống mục thông tin ngƣời khám sức khỏe); 01 Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe (để trống mục thông tin ngƣời làm đơn). T biết đây là Giấy phép lái xe giả và những giấy tờ kèm theo nhận đƣợc cũng là giả. Lúc này tài khoản “Lê Văn Hùng” nhắn tin với T nếu giới thiệu đƣợc ngƣời mua giấy phép lái xe thì sẽ cắt phần trăm hoa hồng cho T 100.000 đồng/giấy phép lái xe.
Đến ngày 28/4/2023, chị Đinh Thị T1 nhắn tin đến tài khoản zalo của T nhờ T làm giấy phép lái xe mô tô cho T1. T báo giá làm giấy phép lái xe là 1.200.000đ và bảo chị T1 gửi ảnh hai mặt căn cƣớc công dân và ảnh chân dung của chị T1 cho T. Đến ngày 01/5/2023, chị T1 gửi 02 ảnh chụp căn cƣớc công dân và gửi ảnh thẻ của T1 cho T sau đó T gửi cho tài khoản “Lê Văn Hùng” để nhờ ngƣời này làm giả giấy phép lái xe mô tô cho chị T1. Đến ngày 09/5/2023, nhân viên bƣu điện lại gửi cho T một phong thƣ chuyển phát nhanh. T tự ứng tiền của mình ra thanh toán số tiền 1.200.000đ cho nhân viên bƣu điện. Sau đó, T mở phong thƣ ra kiểm tra bên trong có 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số: 350235969611 đề ngày 05/5/2023 mang tên ĐINH THỊ THỦY; 01 Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe mang tên ĐINH THỊ THỦY; 01 Giấy khám sức khỏe của ngƣời lái xe (để trống mục thông tin ngƣời khám sức khỏe); 01 Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe (để trống mục thông tin ngƣời làm đơn). Kiểm tra thông tin thì T phát hiện sai thông tin của chị T1, ghi nhầm tên thành “ĐINH THỊ THỦY” nên đã nhắn tin thông báo lại cho tài khoản “Lê Văn Hùng” việc sai tên và yêu cầu làm lại nhƣng chƣa đƣợc làm lại. T cũng thông báo việc làm sai tên giấy phép lái xe cho chị T1 biết. Trần Công T đã giữ lại giấy phép lái xe và hồ sơ liên quan không đƣa cho T1 do sai thông tin.
Ngày 13/5/2023, chị T1 tiếp tục nhờ T làm giấy phép lái xe mô tô cho ba ngƣời bạn của T1 là Nguyễn Thị Minh, Hoàng Thị Cẩm Chi và Trƣơng Mỹ Hoa, tài khoản zalo “Lê Văn Hùng” báo giá tổng là 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng) là giá đã cắt phần trăm hoa hồng mỗi hồ sơ 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) cho Trần Công T bao gồm cả hồ sơ của Đinh Thị T1 trƣớc đó. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Trần Công T vẫn chƣa nhận đƣợc giấy phép lái xe của ba ngƣời này.
* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, vỏ ngoài bằng nhựa màu đỏ bên trong lắp sim Viettel số thuê bao: 0366.769.269 của Trần Công T.
+ 01 thẻ nhựa cứng, màu vàng, kích thƣớc (8,5x5,4)cm, nội dung: “Giấy phép lái xe hạng A1 số 350235969699", mang tên: “Trần Công T, ngày sinh: 07/4/1996, nơi cƣ trú: Thận Nội Ngoại, X. Tiên Hải, TP. Phủ Lý, T. Hà Nam”.
+ 01 thẻ nhựa cứng, màu vàng, kích thƣớc (8,5x5,4)cm, nội dung: “Giấy phép lái xe hạng A1 số 350235969611”, mang tên: "Đinh Thị Thủy, ngày sinh: 06/8/1988, nơi cƣ trú: Lê Xá, X. Tiên Sơn, TX. Duy Tiên, T. Hà Nam”.
+ 03 tờ giấy A4 đƣợc bấm ghim rắt lại với nhau tại góc trên bên trái của các tờ giấy: Tờ giấy thứ 1 có tiêu đề “BIÊN BẢN TÔNG HỢP KẾT QUÁ SÁT HẠCH LÁI XE" có họ tên thí sinh là “Trần Công T”, số báo danh: 09; tờ giấy thứ 2 có tiêu đề “GIẤY KHÁM SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI LÁI XE” không có thông tin ngƣời khám sức khỏe; tờ giấy thứ 3 có tiêu đề “ĐƠN ĐỀ NGHỊ HỌC, SÁT HẠCH ĐỀ CẤP GIẤY PHÉP LÁI XE” không có thông tin ngƣời đề nghị.
+ 03 tờ giấy A4 đƣợc bấm ghim rắt lại với nhau tại góc trên bên trái của các tờ giấy: Tờ giấy thứ 1 có tiêu đề “BIÊN BẢN TỔNG HỢP KẾT QUẢ SÁT HẠCH LÁI XE” có họ tên thí sinh là “Đinh Thị Thủy”, số báo danh: 15; tờ giấy thứ 2 có tiêu đề “GIẤY KHÁM SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI LÁI XE” không có thông tin ngƣời khám sức khỏe; tờ giấy thứ 3 có tiêu đề “ĐƠN ĐỂ NGHỊ HỌC, SÁT HẠCH ĐỂ CẤP GIẤY PHÉP LÁI XE” không có thông tin ngƣời đề nghị.
+ 01 phong bì chuyển phát nhanh có nhãn hiệu “EMS VIETNAM”, kích thƣớc (34x25) cm đã bị xé rách ở phần bên phải phong bì và phần mã tem.
+ 01 phong bì chuyển phát nhanh có nhãn hiệu “EMS VIETNAM”, kích thƣớc (34x25)cm đã bị bóc xé ở mép dán bên phải, ở góc bên phải phong bì dán tem mã chuyển là “EK120660827VN”.
+ 02 phong bì trắng, kích thƣớc (33,5x24,4) cm, đã bị bóc mở một đầu.
Ngày 03/6/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam ra Kết luận giám định số 390/LK-KTHS kết luận: 02 (hai) Giấy phép lái xe hạng A1 số 350235969699, họ tên: Trần Công T, sinh ngày: 07/4/1996, nơi cư trú: X. Tiên Hải, TP. Phủ Lý, T. Hà Nam, đề ngày 05/4/2023 và Giấy phép lái xe hạng A1 số 350235969611, họ tên: Đinh Thị Thủy, sinh ngày: 06/8/1988, nơi cư trú: X. Tiên Sơn, TX. Duy Tiên, T. Hà Nam, đề ngày 05/5/2023 là giả).
Ngày 15/9/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam ra Kết luận giám định số: 631/KL-KTHS, kết luận: Hình dấu tròn có nội dung "TRUNG TÂM DẠY NGHỀ ĐÀO TẠO VÀ SÁT HẠCH LÁI XE" dưới mục "TM. HỘI ĐỒNG SÁT HẠCH - CHỦ TỊCH" trên Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe đề tên Trần Công T, số báo danh 09, Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe đề tên Đinh Thị Thủy, số báo danh 15 và hình dấu tròn có nội dung "GIÁM ĐỊNH Y KHOA" dưới mục "NGƯỜI KẾT LUẬN" trên 02 (hai) Giấy khám sức khỏe của người lái xe số 1405/GKSKLX được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.
Tại Công văn số 1613/SGTVT-QLVT,PT&NL ngày 24/8/2023 của Sở giao thông vận tải tỉnh Hà Nam cung cấp:
- Sở GTVT Hà Nam không có cán bộ có tên "Trịnh Thị Thu Uyên", "Bùi Ngọc Thanh", "Nguyễn Thị Nhung", "Quách Văn Thọ", "Phan Mạnh Cường" đã hoặc đang công tác tại Trung tâm sát hạch lái xe cơ giới đường bộ Hà Nam thuộc Sở GTVT Hà Nam.
- Sở GTVT Hà Nam không sát hạch cho trường hợp Trần Công T, sinh ngày 07/4/1996, trú tại: xã Tiên Hải, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam với số báo danh 09 và Đinh Thị Thủy, sinh ngày 06/8/1988, trú tại: xã Tiên Sơn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam với số báo danh 15.
- Trung tâm sát hạch lái xe cơ giới đường bộ Hà Nam trước đây không có tên là "Trung tâm dạy nghề đào tạo và sát hạch lái xe".
- Theo quy định của Sở GTVT Hà Nam thì dấu tròn đỏ được đóng ở "Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe" của thí sinh là dấu của Sở GTVT Hà Nam, không phải dấu của Trung tâm sát hạch lái xe cơ giới đường bộ Hà Nam.
Tại Công văn số 348/BV-KHTH ngày 16/8/2023 của Bệnh viện giao thông vận tải cung cấp:
- Bệnh viện Giao thông Vận tải chính thức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần từ ngày 05/01/2016.
- Tại thời điểm là Bệnh viện Giao thông Vận tải Trung ương, Bệnh viện có thủ tục khám và cấp Giấy khám sức khỏe của người lái xe cho người lao động và sử dụng mẫu dấu tròn "Bệnh viện Giao thông Vận tải Trung ương" để đóng cấp Giấy khám sức khỏe người lái xe. Bệnh viện chưa từng sử dụng mẫu dấu "Giám định y khoa Bệnh viện Giao thông Vận tải Trung ương".
- Hiện tại Bệnh viện Giao thông Vận tải đã không còn sử dụng mẫu dấu tròn "Bệnh viện Giao thông Vận tải Trung ương". Mẫu dấu tròn hiện tại của Bệnh viện Giao thông Vận tải sẽ được gửi kèm công văn của Bệnh viện với Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý.
- Vương Văn Học, Dương Xuân Minh, BSCKII Nguyễn Văn Thìn không phải là nhân viên của Bệnh viện Giao thông Vận tải.
Từ nội dung trên, bản cáo trạng số: 22/CT-VKS-PL ngày 23/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Trần Công T, về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo nhƣ đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Công T từ 9 đến 12 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì chuyển phát nhanh có nhãn hiệu “EMS VIETNAM”, kích thƣớc (34x25) cm đã bị xé rách ở phần bên phải phong bì và phần mã tem, 01 phong bì chuyển phát nhanh có nhãn hiệu “EMS VIETNAM”, kích thƣớc (34x25)cm đã bị bóc xe ở mép dán bên phải, ở góc bên phải phong bì dán tem mã chuyển là “EK120660827VN” và 02 phong bì trắng, cùng kích thƣớc (33,5x24,4)cm, đã bị bóc mở một đầu.
+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, vỏ ngoài bằng nhựa màu đỏ bên trong lắp sim Viettel số thuê bao 0366.769.269.
+ Tiếp tục lƣu trong hồ sơ vụ án: 01 thẻ nhựa cứng, màu vàng, kích thƣớc (8,5x5,4)cm, nội dung: “Giấy phép lái xe hạng A1 số 350235969699", mang tên: “Trần Công T; 01 thẻ nhựa cứng, màu vàng, kích thƣớc (8,5x5,4)cm, nội dung: “Giấy phép lái xe hạng A1 số 350235969611”, mang tên: "Đinh Thị Thủy; 03 tờ giấy A4 đƣợc bấm ghim rắt lại với nhau tại góc trên bên trái của các tờ giấy: Tờ giấy thứ 1 có tiêu đề “BIÊN BẢN TÔNG HỢP KẾT QUÁ SÁT HẠCH LÁI XE" có họ tên thí sinh là “Trần Công T”, số báo danh: 09; tờ giấy thứ 2 có tiêu đề “GIẤY KHÁM SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI LÁI XE” không có thông tin ngƣời khám sức khỏe; tờ giấy thứ 3 có tiêu đề “ĐƠN ĐỀ NGHỊ HỌC, SÁT HẠCH ĐỀ CẤP GIẤY PHÉP LÁI XE” không có thông tin ngƣời đề nghị; 03 tờ giấy A4 đƣợc bấm ghim rắt lại với nhau tại góc trên bên trái của các tờ giấy: Tờ giấy thứ 1 có tiêu đề “BIÊN BẢN TỔNG HỢP KẾT QUẢ SÁT HẠCH LÁI XE” có họ tên thí sinh là “Đinh Thị Thủy”, số báo danh: 15; tờ giấy thứ 2 có tiêu đề “GIẤY KHÁM SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI LÁI XE” không có thông tin ngƣời khám sức khỏe; tờ giấy thứ 3 có tiêu đề “ĐƠN ĐỂ NGHỊ HỌC, SÁT HẠCH ĐỂ CẤP GIẤY PHÉP LÁI XE” không có thông tin ngƣời đề nghị.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện tƣơng tự nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa. Bị cáo không tranh luận bào chữa gì. Lời nói sau cùng bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố: Những ngƣời tiến hành tố tụng này đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ngƣời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với ngƣời tham gia tố tụng là ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Đinh Thị T1 vắng mặt tại phiên tòa nhƣng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, đƣợc cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
Đánh giá về tội danh: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án về diễn biến vụ án, kết luận giám định cũng nhƣ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc cơ quan điều tra thu thập.
Nhƣ vậy, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại thôn Nội Ngoại, xã Tiên Hải, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, thông qua mạng Zalo, Trần Công T đã gửi thông tin ảnh chụp Căn cƣớc công dân và ảnh chân dung của chị Đinh Thị T1 cho tài khoản Zalo “Lê Văn Hùng” để làm 01 Giấy phép lái xe giả cho chị Đinh Thị T1 nhằm mục đích hƣởng tiền hoa hồng 100.000 đồng.
Hành vi nêu trên của Trần Công T đã phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo nhƣ bản cáo trạng đã nêu là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt chƣa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đánh giá về hình phạt:
- Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Công T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thƣờng của các cơ quan Nhà nƣớc trong quản lý hành chính đƣợc pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự an toàn công cộng, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải ra một bản án nghiêm khắc tƣơng xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân tốt.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên và xem xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cƣ trú rõ ràng. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi bị cáo cƣ trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt. Điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, vỏ ngoài bằng nhựa màu đỏ bên trong lắp sim Viettel số thuê bao 0366.769.269 thuộc quyền sở hữu của Trần Công T. T đã sử dụng làm phƣơng tiện để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc.
- Đối với 01 nhựa cứng, màu vàng, kích thƣớc (8,5x5,4) cm, nội dung: “Giấy phép lái xe hạng A1 số 350235969699”, mang tên: “Trần Công T, ngày sinh: 07/4/1996, nơi cƣ trú: Thận Nội Ngoại, X. Tiên Hải, TP. Phủ Lý, T. Hà Nam" và 01 thẻ nhựa cứng, màu vàng, kích thƣớc (8,5x5,4)cm, nội dung: "Giấy phép lái xe hạng A1 số 350235969611”, mang tên: “Đinh Thị Thủy, ngày sinh: 06/8/1988, nơi cƣ trú: Lê Xá, X. Tiên Sơn, TX. Duy Tiên, T. Hà Nam” là 02 (hai) giấy phép lái xe giả là tài liệu xác định hành vi phạm tội của bị cáo cần tiếp tục lƣu giữ tại hồ sơ vụ án.
- Đối với 03 tờ giấy A4 đƣợc bấm ghim rắt lại với nhau tại góc trên bên trái của các tờ giấy: Tờ giấy thứ 1 có tiêu đề “BIÊN BẢN TỔNG HỢP KẾT QUẢ SÁT HẠCH LÁI XE” có họ tên thí sinh là “Trần Công T”, số báo danh: 09; tờ giấy thứ 2 có tiêu đề “GIẤY KHÁM SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI LÁI XE” không có thông tin ngƣời khám sức khỏe; tờ giấy thứ 3 có tiêu đề “ĐƠN ĐỀ NGHỊ HỌC, SÁT HẠCH ĐỀ CẤP GIẤY PHÉP LÁI XE” không có thông tin ngƣời đề nghị; 03 tờ giấy A4 đƣợc bấm ghim rắt lại với nhau tại góc trên bên trái của các tờ giấy gồm: Tờ giấy thứ 1 có tiêu đề “BIÊN BẢN TỔNG HỢP KÉT QUẢ SÁT HẠCH LÁI XE” có họ tên thí sinh là “Đinh Thị Thủy”, số báo danh: 15; tờ giấy thứ 2 có tiêu đề “ GIẤY KHÁM SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI LÁI XE” không có thông tin ngƣời khám sức khỏe; tờ giấy thứ 3 có tiêu đề “ĐƠN ĐỀ NGHỊ HỌC, SÁT HẠCH ĐỀ CẤP GIẤY PHÉP LÁI XE” không có thông tin ngƣời đề nghị, cần tiếp tục lƣu giữ tại hồ sơ vụ án làm căn cứ giải quyết vụ án.
- Đối với 01 phong bì chuyển phát nhanh có nhãn hiệu “EMS VIETNAM”, kích thƣớc (34x25) cm đã bị xé rách ở phần bên phải phong bì và phần mã tem; 01 phong bì chuyển phát nhanh có nhãn hiệu “EMS VIETNAM”, kích thƣớc (34x25)cm đã bị bóc xé ở mép dán bên phải, ở góc bên phải phong bì dán tem mã chuyển là “EK120660827VN” và 02 phong bì trắng, cùng kích thƣớc (33,5x24,4)cm, đã bị bóc mở một đầu, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về các tình tiết khác:
- Đối với việc ngày 01/4/2023, Trần Công T đặt làm Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên mình của tài khoản Zalo "Lê Văn Hùng", quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa xác định T đặt mua Giấy phép lái xe với mục đích để sử dụng khi tham gia giao thông nhƣng chƣa sử dụng. Do vậy, hành vi của Trần Công T không cấu thành tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan".
- Đối với Đinh Thị T1 xác định có việc đặt làm Giấy phép lái xe hạng Al thông qua T với mục đích để sử dụng, tuy nhiên chị T1 vẫn chƣa nhận đƣợc Giấy phép lái xe của mình, chƣa thanh toán tiền cho T. Do vậy, chƣa đủ căn cứ xem xét xử lý đối với chị T1 về hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” theo quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Đối với việc chị T1 gửi thông tin cho T để đặt làm 03 (ba) giấy phép lái xe cho Nguyễn Thị Minh, Trƣơng Mỹ Hoa và Hoàng Thị Cẩm Chi, tuy nhiên cả ba ngƣời trên đều chƣa nhận đƣợc Giấy phép lái xe giả. Do vậy, không có căn cứ xử lý đối với chị T1 về hành vi “Làm giả tài liệu của cơ quan” quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
- Đối với ngƣời sử dụng tài khoản Facebook "Thanh Huyền - GPLX" và ngƣời sử dụng tài khoản Zalo "Lê Văn Hùng", Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã điều tra nhƣng chƣa có kết quả, chƣa xác định đƣợc danh tính các đối tƣợng trên nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Công T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan”.
[2] Xử phạt bị cáo Trần Công T 09 (chín) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mƣời tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/3/2024).
Giao bị cáo Trần Công T cho Ủy ban nhân dân xã Tiên Hải, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
[3] Về vật chứng:
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì chuyển phát nhanh có nhãn hiệu “EMS VIETNAM”, kích thƣớc (34x25) cm đã bị xé rách ở phần bên phải phong bì và phần mã tem; 01 phong bì chuyển phát nhanh có nhãn hiệu “EMS VIETNAM”, kích thƣớc (34x25)cm đã bị bóc xé ở mép dán bên phải, ở góc bên phải phong bì dán tem mã chuyển là “EK120660827VN” và 02 phong bì trắng, cùng kích thƣớc (33,5x24,4)cm, đã bị bóc mở một đầu.
+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, vỏ ngoài bằng nhựa màu đỏ bên trong lắp sim Viettel số thuê bao 0366.769.269.
( Tình trạng nhƣ biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 25/01/2024).
+ Tiếp tục lƣu trong hồ sơ vụ án: 01 thẻ nhựa cứng, màu vàng, kích thƣớc (8,5x5,4)cm, nội dung: “Giấy phép lái xe hạng A1 số 350235969699", mang tên: “Trần Công T; 01 thẻ nhựa cứng, màu vàng, kích thƣớc (8,5x5,4)cm, nội dung: “Giấy phép lái xe hạng A1 số 350235969611”, mang tên: "Đinh Thị Thủy; 03 tờ giấy A4 đƣợc bấm ghim rắt lại với nhau tại góc trên bên trái của các tờ giấy: Tờ giấy thứ 1 có tiêu đề “BIÊN BẢN TÔNG HỢP KẾT QUÁ SÁT HẠCH LÁI XE" có họ tên thí sinh là “Trần Công T”, số báo danh: 09; tờ giấy thứ 2 có tiêu đề “GIẤY KHÁM SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI LÁI XE” không có thông tin ngƣời khám sức khỏe; tờ giấy thứ 3 có tiêu đề “ĐƠN ĐỀ NGHỊ HỌC, SÁT HẠCH ĐỀ CẤP GIẤY PHÉP LÁI XE” không có thông tin ngƣời đề nghị; 03 tờ giấy A4 đƣợc bấm ghim rắt lại với nhau tại góc trên bên trái của các tờ giấy: Tờ giấy thứ 1 có tiêu đề “BIÊN BẢN TỔNG HỢP KẾT QUẢ SÁT HẠCH LÁI XE” có họ tên thí sinh là “Đinh Thị Thủy”, số báo danh: 15; tờ giấy thứ 2 có tiêu đề “GIẤY KHÁM SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI LÁI XE” không có thông tin ngƣời khám sức khỏe; tờ giấy thứ 3 có tiêu đề “ĐƠN ĐỂ NGHỊ HỌC, SÁT HẠCH ĐỂ CẤP GIẤY PHÉP LÁI XE” không có thông tin ngƣời đề nghị.
[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Công T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT Công an TP Phủ Lý; - Cơ quan THAHS CA TP Phủ Lý; - Chi cục Thi hành án dân sự TP Phủ Lý; - Bị cáo; - Ngƣời có QLNVLQ đến vụ án; - Lƣu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuyên |