- Tranh chấp gì? án hình sự — "VI VĂN NỌI "TCTS" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn Nphạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 42 /2024/HS-ST Ngày: 28/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Mặc Vũ
Bà Đỗ Thị Thu Hương
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Tài – Thư ký Toà án nhân dân thành
phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Trần Hữu Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 335/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024 /QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn N- Tên gọi khác: Không. Sinh ngày:18 tháng 7 năm 1998 tại Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam – Dân Tộc: Thái – Tôn Giáo Không. HKTT: , xã Lục D, huyện Con C, tỉnh Nghệ An. Học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông: Vi Văn Th, sinh năm: 1976. Con bà: Lê Thị Th, sinh năm: 1975. Gia đình có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm: 1995, nhỏ nhất sinh năm: 2008, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ: Vi Thị N, sinh năm: 2002, nghề nghiệp: Làm nông. Con: Vi Thị Trà My, sinh năm: 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ khẩn cấp từ ngày 24/8/2023, bị bắt tạm giam ngày 25/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Bị hại: Anh Bùi Văn B, sinh năm 1986.
Nơi thường trú: Thành Tr, Thạch Thành, Thanh Hóa
Nơi ở hiện nay: 79/9 Thái Ph, phường A, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vi Văn Nkhông có việc làm và nơi ở nhất định. Từ khoảng tháng 01 năm 2023, Vi Văn Ntừ Nghệ An vào thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng làm thuê tại các công trình và nhà vườn. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/8/2023, Nọi một mình đi bộ vào khu vực Hố Tôm, tổ Hòn Bồ, phường 12, thành phố ĐL để tìm việc làm, khi đi ngang qua một nhà vườn, Nọi thấy không khóa cổng, phía trước nhà vườn có một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, biển số 75B1-276.54 của anh Bùi Văn Ba không có người trông coi nên Nọi nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, Nọi đi đến dùng tay tháo yếm xe, giật dây điện ở ổ khóa rồi đấu dây điện lại thì xe nổ máy. Sau đó, Nọi quay xe và điều khiển xe đi lên khu vực đồi thông gần nhà vườn, tại đây Nọi tháo toàn bộ yếm xe, biển số xe, ốp sườn xe, ốp đèn xe vứt tại đồi thông rồi mở cốp xe ra thì thấy bên trong có một ví da màu nâu, bên trong ví da có số tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng) và một số giấy tờ tùy thân của anh Bùi Văn B, Nọi lấy toàn bộ số tiền và vứt ví da cùng giấy tờ bên trong tại khu vực đồi thông rồi điều khiển xe bỏ đi.
Số tiền lấy được trong ví da Nọi đã sử dụng mua một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màu xanh da trời tại cửa hàng điện thoại trên đường Mê Linh, phường 9, thành phố ĐL (không nhớ rõ tên và địa chỉ cụ thể) trị giá 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Sau đó, Nọi điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được đến thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng chơi và ngủ lại qua đêm. Đến sáng ngày 23/8/2023, Nọi điều khiển xe mô tô trên đi đến khu vực xã Ea Ngai, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, vào nhà vườn hỏi xin việc làm thì chủ vườn thấy nghi ngờ nên trình báo Công an xã Ea Ngai đến mời Nọi về làm việc. Qua làm việc, Nọi trình bày là xe mô tô mua từ tiệm phế liệu, không có giấy tờ xe nên Công an xã Ea Ngai đã lập biên bản tạm giữ xe và cho Nọi ra về. Sau đó, Nọi bắt xe khách về lại thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng, khi đi đến chân đèo Mimosa, thành phố ĐL thì Công an phường 12, thành phố ĐL mời về làm việc. Tại cơ quan Công an, Vi Văn Nđã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như trên. Số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) còn lại, Nọi đã tiêu xài hết.
* Người bị hại: Anh Bùi Văn B, sinh năm 1986, nơi thường trú: Thành Trực, Thạch Thành, Thanh Hóa, nơi ở hiện tại: 79/9 Thái Phi, phường A, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng bị chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, biển số 75B1-276.54. Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 137/KL-ĐG ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành
phố
ĐL
xác
định
chiếc
xe
bị
chiếm
đoạt có giá 6.000.000đ. Cơ quan CSĐT Công an thành phố ĐL đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Bùi Văn Ba chiếc xe bị chiếm đoạt. Anh Ba đã nhận lại tài sản và yêu cầu Vi Văn Nbồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Trong đó bao gồm 6.000.000đ Nọi đã trộm cắp và 4.000.000đ là tiền anh Badùng để sửa lại xe.
Tại bản cáo trạng số 10/CT – VKSĐL – LĐ, ngày 18/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố bị cáo Vi Văn Nvề tội “ Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên Tòa
Bị cáo Vi Văn Nkhông khiếu nại bản cáo trạng và khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị về hình phạt:
Đề nghị tuyên bố bị cáo Vi Văn Nphạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Vi Văn Nọi, từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32, màu xanh da trời đã qua sử dụng, đây là tài sản do bị cáo dùng tiền trộm cắp được mua nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng và kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Vi Văn Nlà người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, để có tiền tiêu xài ngày 22/8/2023 bị cáo đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, biển số 75B1-276.54 của anh Bùi Văn và 6.000.000đ trong cốp xe nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản”
Xét tính chất của hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh xem thường pháp luật. Để có tiền tiêu xài, bị cáo bất chấp pháp luật dùng thủ đoạn lén lút trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sỡ hữu hợp pháp của công dân, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, vì vậy phải có một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có điều kiện rèn luyện, tu dưỡng trở thành con người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng như có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết định khung hình phạt: Chiếc xe mô tô bị cáo chiếm đoạt của anh Bùi Văn Ba theo xác định của Hội đồng định gía tài sản trong tố tụng hình sự thành phố ĐL trị giá 6.000.000đ và 6.000.000đ tiền mặt vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố bị cáo Vi Văn Nđiểm Khoản 1 Điều 173 là có cơ sỡ và đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên Tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Trong đó bao gồm 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) Nọi đã trộm cắp và 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) là tiền anh Ba dùng để sửa lại xe.
Về xử lý vật chứng: các vật chứng thu giữ Cơ quan kiểm sát điều tra - công an thành phố ĐL đã xử lý trả cho chủ sỡ hữu nên không xem xét. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32, màu xanh da trời đã qua sử dụng, đây là tài sản do bị cáo dùng tiền trộm cắp được mua nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dâ sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn Nphạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vi Văn N09 (chín) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/8/2023.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Vi Văn Ncó trách nhiệm bồi thường cho anh Bùi Văn Ba số tiền 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32, màu xanh da trời đã qua sử dụng ( theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố ĐL).
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Vi Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy điều 30 Luật thi haønh aùn daân söï./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND thành phố ĐL; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Công an thành phố ĐL; - Chi cục Thi hành án tp ĐL; - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Bộ phận theo dõi thi hành án phạt tù; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ( Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Diệu Nga |