vanban.org

Bản án 42/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ H:

Về hôn nhân: chị Trần Thị Mỹ H được ly hôn anh Trần Minh N. Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Thùy T1 (nữ) sinh ngày 13/02/2019 và Trần Thùy T2 (nữ) sinh ngày 10/12/2020 cho anh Trần Minh N tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Mỹ H tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ H:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST
Ngày:
14-3-2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ pH toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung.

2. Ông Đỗ Văn Định.

- Thư ký pH tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia pH tòa: Bà Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 334/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1995 (Vắng mặt, có đơn).

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện V, Bình Định.

- Bị đơn: Anh Trần Minh N, sinh năm 1993 (Vắng mặt lần 02).

Địa chỉ: Thôn A, xã BT, huyện T, Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Trần Thị Mỹ H trình bày: Chị và anh Trần Minh N tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau; được hai bên gia đình chấp nhận, tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục, nhưng không nhớ rõ ngày tháng năm. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã BT vào ngày 14/11/2017. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được 03 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh N không chịu làm ăn chăm lo cho gia đình mà còn hay đánh đập chị, một mình chị phải gánh vác kinh tế gia đình mà phía nhà chồng thì bênh vực anh N, tạo áp lực về tinh thần và thể xác cho chị. Chị đã cố gắng chịu đựng vì con để tiếp tục chung sống nhưng tình hình không tiến triển. Từ đầu năm 2022 đến nay vợ chồng cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương gì nữa, chị yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị và anh Trần Minh N có 02 con chung tên Trần Thùy T1 (nữ) sinh ngày 13/02/2019 và Trần Thùy T2 (nữ) sinh ngày 10/12/2020 hiện đang sống cùng với anh N. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nhận nuôi dưỡng con chung Trần Thùy T1 đến trưởng thành, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Trần Minh N trình bày: Anh thống nhất với chị Trần Thị Mỹ H trình bày về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, thời gian chung sống với nhau. Về nguyên nhân mâu thuẫn, theo anh là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên kình cãi. Tuy nH chị H yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý vì con còn nhỏ.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung tên Trần Thùy T1 (nữ) sinh ngày 13/02/2019 và Trần Thùy T2 (nữ) sinh ngày 10/12/2020 hiện đang sống cùng với anh. Nếu ly hôn, anh không đồng ý yêu cầu của chị H về việc được nhận nuôi dưỡng con chung Trần Thùy Trang đến trưởng thành. Anh yêu cầu nhận nuôi cả hai con chung, không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại pH tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu:

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đa phần đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nH còn có một vài vi phạm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTT Dân sự 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTT Dân sự 2015.

Về quan điểm giải quyết vu ̣ án: đề nghi ̣ HĐXX áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: chị Trần Thị Mỹ H được ly hôn anh Trần Minh N; không chấp nhận việc anh N không đồng ý ly hôn vì không phù hợp với thực tế và quy định pháp luật. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thùy T2 (nữ) sinh ngày 10/12/2020 cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành; giao con chung Trần Thùy T1 (nữ) sinh ngày 13/02/2019 cho chị H nuôi dưỡng đến trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: miễn xét (vì các bên không yêu cầu). Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi ngH cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại pH tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại pH tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia pH tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn là anh Trần Minh N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ H với anh Trần Minh N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thành vào ngày 14/11/2017 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống được 03 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng tính tình không hợp; khó khăn về kinh tế và mâu thuẫn với gia đình chồng xảy ra nhiều mà anh N không thông hiểu còn chửi mắng, đánh đập chị H. Chị H đã cố gắng chịu đựng vì con để tiếp tục chung sống nhưng tình hình không tiến triển. Từ đầu năm 2022 đến nay vợ chồng cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống. Vợ chồng xa cách đã lâu nhưng hai bên vẫn bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị H yêu cầu ly hôn với anh N là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận.

Anh N vẫn bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của mình, không đưa ra được phương án thuyết phục chị H nên việc anh không đồng ý ly hôn là không có căn cứ để HĐXX chấp nhận.

Về con chung: Chị H và anh N có 02 con chung tên Trần Thùy T1 (nữ) sinh ngày 13/02/2019 và Trần Thùy T2 (nữ) sinh ngày 10/12/2020 hiện đang sống cùng với anh N. Khi ly hôn chị H yêu cầu được nhận nuôi dưỡng con chung Trần Thùy T1 (nữ) sinh ngày 13/02/2019 và giao con chung Trần Thùy T2 (nữ) sinh ngày 10/12/2020 cho anh N nuôi dưỡng đến trưởng thành. Anh N thì yêu cầu nhận nuôi cả hai con chung đến trưởng thành.

Hội đồng xét xử thấy: Hai con chung khi nay đều sống cùng với cha là anh N, chị H đã rời nhà đi từ năm 2022, không trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy hai con. Để đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần cho trẻ, tránh xáo trộn cuộc sống sinh hoạt của trẻ, nghị không chấp nhận yêu cầu của chị H mà chấp nhận yêu cầu của anh N, giao hai con chung cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành là phù hợp với thực tế và quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con: anh N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên HĐXX không xét.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: cần buộc chị Trần Thị Mỹ H nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0003398 ngày 17/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị H đã nộp đủ án phí.

Lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ H:

- Về hôn nhân: chị Trần Thị Mỹ H được ly hôn anh Trần Minh N.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Thùy T1 (nữ) sinh ngày 13/02/2019 và Trần Thùy T2 (nữ) sinh ngày 10/12/2020 cho anh Trần Minh N tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

Bên không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên Tòa không xét.

2/ Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Chị Trần Thị Mỹ H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ - tạm ứng án phí đã nộp trước theo biên lai số 0003398 ngày 17/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị H đã nộp đủ án phí.

3/ Quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

4/ Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ