- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "MAI THANH NGH- ĐẶNG T KIM O"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Thanh Ngh đối với bị đơn bà Đặng Thị Kim O về việc tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07 - 5 -2024 V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị B;
2. Bà Tôn Thị Ngọc S.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Gi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tr - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1238/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Mai Thanh Ngh, sinh năm 1982; nơi thường trú: Đội 6, thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định. Có mặt.
Bị đơn: Bà Đặng Thị Kim O, sinh năm 1988; nơi thường trú: Thôn 2, xã H, huyện P, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Đường An Sơn 15, ấp P, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn ông Mai Thanh Ngh trình bày:
Ông Mai Thanh Ngh và bà Đặng Thị Kim O ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 253/2019/QĐST - HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Theo Quyết định, bà O được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung tên Mai Tiến Đ, sinh ngày 08/9/2015 và Mai Tiến M, sinh ngày 08/4/2017. Ông Ngh không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi có quyết định ly hôn của Tòa án, bà O ngăn cản không cho ông Ngh đến thăm con vì những mâu thuẫn cá nhân giữa bà O, ông Ngh và chồng mới của bà O. Khi ông Ngh đến nhà xin gặp con thì bà O không cho vào nhà gặp mà bà O chỉ chở ra quán cho gặp. Mỗi lần gặp con rất khó khăn, chồng mới của bà O hù dọa sẽ chém giết ông Ngh nên ông Ngh không dám đến gặp con.
Ngoài ra, hiện nay bà O đã có chồng mới, chồng mới của bà O có xu hướng bạo lực, có lời lẽ thô tục, có hành vi đe dọa ông Ngh, công việc của bà O không ổn định. Ông Ngh hiện nay còn sống độc thân, công việc và mức lương ổn định. Do vậy, ông Ngh yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Mai Tiến Đ, sinh ngày 08/9/2015 và Mai Tiến M, sinh ngày 08/4/2017. Ông Ngh không yêu cầu bà O cấp dưỡng nuôi con chung.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đặng Thị Kim O trình bày: Bà thống nhất về việc ly hôn và quyền nuôi con như Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Sau khi ly hôn, bà O vẫn tạo điều kiện cho ông Ngh trực tiếp thăm con, bà O có dặn ông Ngh nếu đến thăm con thì phải báo trước cho bà O một tuần để bà O chuẩn bị thời gian cho gặp. Bà O luôn tạo điều kiện cho ông Nghĩa dẫn con về chơi với ông bà nội và các dịp lễ, tết, nghỉ hè... Gần đây ông Ngh có hành vi không tốt gọi điện cho con nói xấu về bà O và chồng mới bà O nên bà O rất lo lắng. Ngoài ra, ông Ngh đến thăm con không báo trước cho bà O biết, đến vào khoảng 22 giờ hoặc đến vào lúc con đang đi học, đến vào lúc bà O đang làm việc nên bà O không thể sắp xếp cho ông Ngh gặp các con được.
Mặc dù bà chung sống như vợ chồng với ông T, nhưng ông T không có khả năng có con, ông T rất yêu thương cháu Đ và cháu M, luôn xem cháu Đ và cháu M như con ruột.
Hiện nay bà O làm nghề buôn bán online, thu nhập luôn ổn định mỗi tháng khoảng 50.000.000 đồng, hiện nay bà O chăm sóc cháu Đ và cháu M rất tốt. Ngoài ra, bà O không đồng ý giao con cho ông Ngh nuôi dưỡng vì ông Ngh thu nhập hiện nay rất thấp, ông Ngh chưa có nhà riêng phải ở cùng cha mẹ, cha mẹ ông Ngh đã trên 70 tuổi, nên việc ông Ngh chăm sóc nuôi dưỡng 02 cháu Đ và M là không thể đảm bảo được, do đó bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Ngh.
Tại phiên tòa, ông Ngh vẫn giữ nguyên yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đ, cháu M và không yêu cầu bà O cấp dưỡng nuôi con.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông Mai Thanh Ngh là không có cơ sở chấp nhận, vì bà O không có hành vi ngăn cản việc thăm con của ông Ngh. Ngoài ra, theo biên bản lấy lời khai của cháu Đ và cháu M thì các cháu đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Hiện nay cháu Đ và cháu M đang còn nhỏ rất cần đến sự chăm sóc của người mẹ. Bà O hiện nay có đủ thời gian, điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng hai cháu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 70, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn ông Mai Thanh Ngh khởi kiện bị đơn bà Đặng Thị Kim O về việc tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Bà O hiện nay đang ở tại đường An Sơn 15, ấp P, xã S, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Tại biên bản xác minh ngày 11/4/2024 Trưởng ban điều hành ấp An Phú, xã S, thành phố T, tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin về điều kiện và môi trường sống của cháu Đ và cháu M hiện nay được đảm bảo rất tốt, không có dấu hiệu gì bất thường cụ thể: Bà O chuyển đến sinh sống tại căn nhà thuộc đường An Sơn 15, ấp P, xã S, thành phố T, tỉnh Bình Dương từ tháng 9/2023 đến nay. Tại căn nhà trên có bà O, chồng bà O và 02 con của bà O đang ở đây. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con của bà O địa phương thấy bà O chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con rất tốt, các cháu rất ngoan và học giỏi. Bà O và chồng hiện nay của bà O là ông Tân đều rất thương yêu hai cháu. Hàng ngày, bà O và ông T thay nhau đưa đón các con đi học, cùng nhau lo việc học hành, ăn uống, tắm rửa và mọi sinh hoạt hàng ngày cho các cháu. Ông T rất thương yêu hai cháu. Từ trước đến nay địa phương chưa ghi nhận hoặc thấy bất kỳ hành vi nào liên quan đến việc đánh đập, ngược đãi hay hành hạ gì đối với hai cháu Đ và M.
Theo biên bản xác minh ngày 11/4/2024 tại Công an xã S, thành phố T, tỉnh Bình Dương cung cấp được biết: Khoảng cuối năm 2023 địa phương có nhận được thông tin sự việc ông Mai Thanh Ngh đến nhờ công an xã hỗ trợ việc bà O không cho ông Ngh vào nhà để thăm con, do không thuộc thẩm quyền nên công an xã không giải quyết. Sau đó ông Ngh có đến công an ấp và công an ấp có cùng ông Ngh đến nhà bà O. Khi đến nhà thì bà O cho rằng ông Nghĩa vào nhà thăm con là không tốt sẽ gây mâu thuẫn với ông T nên bà O đã chở hai cháu ra ngoài quán cho ông Ngh gặp.
Theo biên bản xác minh ngày 25/4/2024 tại Trường tiểu học S, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì được biết cháu Đ và cháu M hiện đang học tại đây. Quá trình học tại đây các cháu rất chăm ngoan, học tốt, luôn hoàn thành tất cả các bài tập tại lớp và ở nhà. Cha mẹ các cháu đưa đón các cháu đi học rất đúng giờ, các cháu chưa lần nào nghỉ học mà không có phép. Từ trước đến nay nhà trường chưa ghi nhận sự việc gì liên quan đến việc bạo hành hay đánh đập gì đối với cháu Đ và cháu M.
Từ những chứng cứ trên cho thấy bà O hiện nay đang chăm sóc các con rất tốt, bà O cũng không có hành vi cản trở việc thăm con của ông Ngh.
Xét về điều kiện nuôi con: Quá trình tố tụng, ông Ngh cung cấp hiện nay đang ở cùng cha mẹ, ông Ngh đi làm cách nhà khoảng 12km đến 14 km, làm giờ hành chính, lương trung bình 10.000.000 đồng/tháng có xác nhận của công ty. Bà O làm nghề bán hàng online, không bị ràng buộc về thời gian, thu nhập 50.000.000 đồng/tháng có bảng sao kê tài khoản ngân hàng kèm theo, có nhà riêng ở quê, nên về điều kiện kinh tế của bà O có phần hơn ông Ngh.
Xét về nguyện vọng của các con: Theo quy định tại khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “… Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên…”. Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/01/2024 của cháu Mai Tiến Đ và biên bản lấy lời khai ngày 11/4/2024 của cháu Mai Tiến M thì các cháu đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế, hiện nay các cháu Mai Tiến Đ và Mai Tiến M đang được sống, học tập trong môi trường rất tốt, các cháu đang trong giai đoạn phát triển về thể chất lẫn tâm sinh lý, nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ. Bà O hiện nay có đủ khả năng để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai cháu Đ và M. Do đó, để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, nên tiếp tục giao cháu Đ và cháu M cho bà O tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại các Điều 70, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 58, 70, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Thanh Ngh đối với bị đơn bà Đặng Thị Kim O về việc tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
2. Về án phí sơ thẩm:
Ông Mai Thanh Ngh phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000942 ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị H Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ |