- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "thay đổi người trực tiếp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Sơn Qui S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN W TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST Ngày 25 - 04 - 2024 V/v Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊNH W TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Cơ.
2. Bà Trần Thị Tuyết Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023; về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Sơn Qui S, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Ấp Q, xã E, huyện R, tỉnh Trà Vinh. (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Liêu Thị Sà U, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Ấp T, xã Y, huyện W, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Sơn Qui S trình bày: Ông Sơn Qui S và bà Liêu Thị Sà U đã ly hôn theo Quyết định số 386/2020/QĐST-HNGĐ ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện R, tỉnh Trà Vinh. Theo Quyết định thì giữa ông Sơn Qui S và bà Liêu Thị Sà U thỏa thuận giao con chung là cháu Sơn Thị Đa V, sinh ngày 04/5/2012 và cháu Sơn Ngọc P, sinh ngày 25/4/2014 cho bà Liêu Thị Sà U nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn thì con chung Sơn Thị Đa V sống chung với ông Sơn Qui S. Ông Sơn Qui S nhiều lần qua thăm con chung là cháu Sơn Ngọc P thì bị bà Liêu Thị Sà U có hành vi ngăn cản, cảnh cáo không cho thăm con chung. Hơn nữa, sau khi ly hôn bà Liêu Thị Sà U đã cho cháu Sơn Ngọc P nghĩ học 01 năm mới cho đi học lại.
Nay ông Sơn Qui S yêu cầu Tòa án giải quyết: Ông Sơn Qui S yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung là cháu Sơn Thị Đa V, sinh ngày 04/5/2012 và cháu Sơn Ngọc P, sinh ngày 25/4/2014 và ông Sơn Qui S không yêu cầu bà Liêu Thị Sà U cấp dưỡng nuôi con.
2. Bị đơn Liêu Thị Sà U: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 154/2023/TB-TLVA ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng (nhận ngày 05/10/2023) nên bà Liêu Thị Sà U đã biết nội dung, căn cứ khởi kiện và những vấn đề bà Liêu Thị Sà U yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng bà Liêu Thị Sà U không có văn bản trả lời theo Toán án ấn định. Đồng thời, Tòa án đã thông báo và triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không tham gia và vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xin vắng mặt và không có ý kiến khác nên xem như giữ nguyên nội dung đơn yêu cầu khởi kiện.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành đúng pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về tố tụng:
[1] Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Sơn Qui S yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là cháu Sơn Thị Đa V, sinh ngày 04/5/2012 và cháu Sơn Ngọc P, sinh ngày 25/4/2014 và ông Sơn Qui S không yêu cầu bà Liêu Thị Sà U cấp dưỡng nuôi con. Khi thụ lý vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Trong vụ án bị đơn Liêu Thị Sà U cư trú tại ấp T, xã Y, huyện W, tỉnh Sóc Trăng, vụ án được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoạc cần ủy thác tư pháp. Do vậy, Toà án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Sơn Qui S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn Liêu Thị Sà U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm mà vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
[II] Về nội dung:
[1] Nguyên đơn Sơn Qui S và bị đơn Liêu Thị Sà U đã ly hôn theo Quyết định số 386/2020/QĐST-HNGĐ ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện R, tỉnh Trà Vinh. Theo Quyết định thì giữa ông Sơn Qui S và bà Liêu Thị Sà U thỏa thuận giao con chung là cháu Sơn Thị Đa V, sinh ngày 04/5/2012 và cháu Sơn Ngọc P, sinh ngày 25/4/2014 cho bà Liêu Thị Sà U trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn thì cháu Sơn Thị Đa V chung sống với ông Sơn Qui S và sau khi khởi kiện cháu Sơn Ngọc P về chung sống với ông Sơn Qui S. Nay ông Sơn Qui S yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, ông Sơn Qui S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là cháu Sơn Thị Đa V và cháu Sơn Ngọc P, không yêu cầu bà Liêu Thị Sà U cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn Liêu Thị Sà U tuy không có ý kiến và không tham gia tố tụng nhưng biết về nội dung khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn Sơn Qui S mà không phản đối.
[2] Theo quy định tại khoản 1 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con”. Do đó, ông Sơn Qui S là cha đẻ của cháu Sơn Thị Đa V và cháu Sơn Ngọc P nên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, ngày 05/9/2023 ông Sơn Qui S tự mình gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp theo quy định pháp luật.
[3] Cũng theo quy định tại điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây: Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con” và “Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên”. Xét thấy, khi ly hôn tuy các bên thỏa thuận giao cháu Sơn Thị Đa V cho bà Liêu Thị Sà U trực tiếp nuôi dưỡng nhưng trên thực tế từ sau khi ly hôn cho đến nay cháu Sơn Thị Đa V chung sống với ông Sơn Qui S và do ông Sơn Qui S là người trực tiếp nuôi nên về tình cảm gắn bó với ông Sơn Qui S, được ông Sơn Qui S nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, tại Biên bản lấy lời khai của đương sự cùng ngày 24/10/2023 của cháu Sơn Thị Đa V nguyện vọng được sống với ông Sơn Qui S nếu thay đổi môi trường sống sẽ ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần (đời sống tâm sinh lý và tình cảm) và cuộc sống bình thường của cháu.
[4] Đối với cháu Sơn Ngọc P, sau khi ông Sơn Qui S và bà Liêu Thị Sà U ly hôn thì cháu Tròn chung sống với bà Liêu Thị Sà U và do bà Liêu Thị Sà U trực tiếp nuôi, ông Sơn Qui S nhiều lần qua thăm cháu Tròn nhưng bà Liêu Thị Sà U có hành vi ngăn cản, không cho thăm con chung. Đồng thời, tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 08/4/2024 của cháu Sơn Ngọc P nguyện vọng được sống với ông Sơn Qui S và cho rằng trong thời gian sống với bà Liêu Thị Sà U thường bị bà Liêu Thị Sà U và Bà Ngoại đánh, hiện tại cháu Sơn Ngọc P cũng đã về sống chung với ông Sơn Qui S và ông Sơn Qui S cũng có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi cháu Tròn. Mặt khác, bà Liêu Thị Sà U cũng đã có chồng và có con khác, hiện tại đi làm ăn, sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh không trực tiếp nuôi cháu Sơn Ngọc P mà cháu Sơn Ngọc P sống với Ông Bà Ngoại; hiện tại bà Liêu Thị Sà U không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con.
[5] Ông Sơn Qui S xin được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu bà Liêu Thị Sà U cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của ông Sơn Qui S nên được ghi nhận.
[6] Do vậy, theo ông Sơn Qui S yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và xin được trực tiếp nuôi con chung là cháu Sơn Thị Đa V và cháu Sơn Ngọc P đến trưởng thành (tròn 18 tuổi) và ông Sơn Qui S không yêu cầu bà Liêu Thị Sà U cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Từ những phân tích và nhận định như đã nêu trên, theo yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[5] Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, nên được chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân theo mức án phí không giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; theo hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Sơn Qui S.
- Giao cháu Sơn Thị Đa V, sinh ngày 04/5/2012 và cháu Sơn Ngọc P, sinh ngày 25/4/2014 cho ông Sơn Qui S trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi).
- Bà Liêu Thị Sà U không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho bà Liêu Thị Sà U theo quy định pháp luật, không ai có quyền ngăn cản.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Sơn Qui S phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0010311 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện W, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông Sơn Qui S đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
3. Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi cư trú) để xin Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hùng Nuôi |