- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi quyền nuôi con giữa anh M và chị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lưu Bá M; giao con Lưu Gia L1, sinh ngày 09/8/2012 cho anh M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; chị H cấp dưỡng nuôi con Lưu Gia L1 cùng anh M mỗi tháng 1.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Nghị; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình Nghị; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-6-2024 V/v: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trác.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Ngọc Phức
2. Bà Cao Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Lưu Bá M, sinh năm 1987
Địa chỉ: Tổ A, khu A, thị trấn L, huyện Ý, tỉnh Nam Định
* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình
(Anh M, chị H đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lưu Bá M trình bày:
Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 128/2017/QĐST-HNGĐ ngày 14-8-2017 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, anh và chị H đã thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án trong đó có thỏa thuận về việc nuôi con chung như sau: Anh là người trực tiếp nuôi con chung Lưu Bảo L, sinh ngày 26-10-2014; chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi con chung Lưu Gia L1, sinh ngày 09-8-2012. Tuy nhiên từ kể từ khi ly hôn chị H không trực tiếp nuôi cháu L1 mà để anh trực tiếp nuôi cháu L1 từ khi ly hôn đến nay, chị H không có trách nhiệm cũng như cấp dưỡng nuôi cháu L1 cho anh. Nay chị H đã kết hôn với người khác, vậy anh giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi con chung Lưu Gia L1 và yêu cầu chị H góp cấp dưỡng nuôi con chung Lưu Gia L1 cùng anh mỗi tháng 2.000.000đồng.
* Trong bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa; bị đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 128/2017/QĐST-HNGĐ ngày 14-8-2017 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, chị và anh M đã thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án trong đó có thỏa thuận về việc nuôi con chung như sau: anh M là người trực tiếp nuôi con chung Lưu Bảo L, sinh ngày 26-10-2014; chị được trực tiếp nuôi con chung Lưu Gia L1, sinh ngày 09-8-2012. Tuy nhiên từ kể từ khi ly hôn tôi trực tiếp nuôi cháu L1 đến năm 2019 thì anh M đón cháu L1 về trực tiếp nuôi dưỡng; chị đến xin đón cháu L1 về để nuôi dưỡng chăm sóc nhưng anh M không cho đón nên chị đành phải về vì không muốn tranh giành xảy ra xô xát gia đình, thỉnh thoảng chị vẫn đến thăm các con và cho tiền con để mua sách vở, quần áo. Nay anh M có nguyện vọng nuôi cháu L1, chị cũng đồng ý để cho anh M trực tiếp nuôi con L1 nhưng chị không góp cấp dưỡng hàng tháng là 2.000.000đồng theo yêu cầu của anh M mà chị sẽ góp theo khả năng của mình. Trường hợp anh M không đủ khả năng nuôi cháu L1 thì chị tiếp tục nuôi cháu L1 và không yêu cầu anh M phải góp cấp dưỡng nuôi cháu L1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của anh Lưu Bá M thì thấy đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” thuộc là thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà theo khoản 3 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.1] Anh M, chị H đều có mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 128/2017/QĐST-HNGĐ ngày 14-8-2017 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, chị và anh M đã thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án trong đó có thỏa thuận về việc nuôi con chung như sau: anh M là người trực tiếp nuôi con chung Lưu Bảo L, sinh ngày 26-10-2014; chị được trực tiếp nuôi con chung Lưu Gia L1, sinh ngày 09-8-2012. Từ thời điểm ly hôn, anh M là người trực tiếp nuôi con L1, chị H không có trách nhiệm hay biện pháp thực hiện nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc con chung, mặt khác cháu L1 cũng có nguyện vọng ở với anh M và hiện tại đang sinh sống, học tập ổn định cùng anh M. Do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh M; giao con Lưu Gia L1, sinh ngày 09/8/2012 cho anh M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; chị H chứng minh được thu nhập ổn định hàng tháng là 8.000.000 đồng; tuy nhiên lại đang nuôi con nhỏ (đã kết hôn với người khác); anh M yêu cầu chị H cấp dưỡng mối tháng 2.000.000 đồng là quá cao; vì vậy chấp nhận một phần yêu cầu cấp dưỡng của anh M; buộc chị H cấp dưỡng nuôi con cùng anh M mỗi tháng 1.000.000 đồng tính từ tháng 7/2024 đến khi con Lưu Gia L1 đủ 18 tuổi; chị H có quyền đi lại, thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở; việc thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.
Về án phí: Anh Lưu Bá M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; chị H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sựĐiều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lưu Bá M; giao con Lưu Gia L1, sinh ngày 09/8/2012 cho anh M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; chị H cấp dưỡng nuôi con Lưu Gia L1 cùng anh M mỗi tháng 1.000.000 đồng tính từ tháng 7/2024 đến khi con Lưu Gia L1 đủ 18 tuổi; chị H có quyền đi lại, thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở; việc thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.
2. Về án phí: Anh Lưu Bá M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà theo biên lai số: 0003625 ngày 19/02/2024 (anh M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm). Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
3. Về quyền kháng cáo: Anh M, chị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Hưng Hà; - Chi cục THADS huyện Hưng Hà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quang Trác |