- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HSST Ngày 16/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O- TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huy Trọng và ông Lưu Bá Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh O.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh, Kiểm sát viên;
Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại: Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 38/2023/HSST ngày 30 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sô: 37/2023/HSST-QĐTA ngày 01 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Ngọc D (Tên gọi khác:Không; Giới tính: Nam), sinh năm 2002; ĐKNKTT nơi ở: Thôn Tr, xã Cao V, huyện Thanh O, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Bố đẻ: Lê Ngọc N; mẹ đẻ: Đỗ Thị Th; Chưa có vợ, con: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Danh chỉ bản 95/2023, lập ngày 16/3/2023 tại Công an huyện Thanh O, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thanh O. Bị cáo có mặt tại điểm cầu trực tuyến trại tạm giam số: 01 Công an Thành phố Hà nội, theo lệnh trích xuất của tòa án.
- Người làm chứng:
1/Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1992
Trú tại: thôn Bãi, xã Cao Viên, huyện Thanh O, TP Hà Nội
2/Ông Vũ Văn P, sinh năm 1973
Trú tại: Thôn Đàn Viên, xã Cao Viên, huyện Thanh O, TP Hà Nội.
(Anh vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Lê Ngọc D bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, Thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 22 giờ 20 phút, ngày 13/3/2023, Lê Ngọc D (sinh năm: 2002, trú tại: thôn Trung, xã Cao Viên, huyện Thanh O, TP Hà Nội) điều khiển xe mô tô Honda Wave biển số 29F1-39***, đi từ nhà đến khu vực thôn Đống, xã Cao Viên, huyện Thanh O, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, D tìm mua được của 01 người đàn ông (không biết danh tính, địa chỉ cụ thể) 03 viên ma túy “kẹo” với giá 900.000 đồng và 01 túi ma túy “ke” với giá 1.500.000 đồng được bọc ngoài bằng khẩu trang màu xanh. Sau khi mua được ma túy, D cầm ma túy bên tay trái và điều khiển xe mô tô đi được một đoạn, thì phát hiện lực lượng Công an, nên D đã cầm gói ma túy thả xuống đường bê tông, đúng lúc này, Công an xã Cao Viên đi đến, bắt quả tang D cùng tang vật của vụ án.
Ngày 14/3/2023, Công an xã Cao Viên đã bàn giao D cùng tang vật của vụ án đến Công an huyện Thanh O.
Vật chứng thu giữ:
- 03 viên nén màu xanh (D khai là ma túy);
- 01 gói nilong màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng (D khai là ma túy);
- 01 chiếc khẩu trang bằng vải màu xanh.
- 01 xe mô tô tô Honda Wave biển số 29F1-39***.
- 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu hồng đỏ, số Imel: 353333079585251, gắn số sim: 0971.209.425;
Tại Bản kết luận giám định số 1554/KL-KTHS ngày 21/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
“- 03 viên nén màu xanh đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 1,406 gam.
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói ni lông là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,657 gam.”
Tại Bản kết luận giám định số 2930/KL-KTHS ngày 15/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
“Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, đeo biển kiểm soát: 29F1-39***:
+ Số khung nguyên thủy: RLHJA3902HY266624.
+ Số máy nguyên thủy: JA39E-0266674.”
Về nguồn gốc chiếc xe mô tô 29F1-39***, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của anh Nguyễn Văn Thế sinh năm: 1992, trú tại: thôn Bãi, xã Cao Viên, huyện Thanh O, TP Hà Nội). Anh Thế cho D mượn chiếc xe trên để đi làm, anh Thế không biết D sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội. Anh Thế trình bày mua chiếc xe trên vào năm 2020 với giá 12.000.000 đồng của một người đi đường, xe có biển số là: 24B2-251.12, tuy nhiên quá trình sử dụng anh Thế đã làm mất biển số xe, sau đó có nhặt được chiếc biển số xe 29F1-39*** nên đã gắn vào xe máy của mình. Ngày 25/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh O đã ra QĐ xử lý vật chứng bằng hình thức bàn giao chiếc xe mô tô cho Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Thanh O để xử lý theo quy định và xử phạt vi phạm hành chính đối với Thế về việc gắn biển số xe không đúng với giấy đăng ký xe.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho D, do không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể, Cơ quan CSĐT Công an huyện đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không đề cập xử lý, là có căn cứ.
Tại bản Cáo trạng số: 40/CT-VKS ngày 29 tháng 5 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, TP. Hà Nội đã truy tố bị cáo Lê Ngọc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng đã nêu và điều luật đã viện dẫn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Ngọc D từ 18 (mười tám) đến 24 (hai bốn) tháng tù. Và không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
-Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư hoàn lại sau giám định của Phòng PC09- Công an TP Hà Nội có chứ ký của Lê Ngọc D, Đc Phạm Trung Hiếu, Đ/c Nguyễn Văn Hà và giám định viên tại các mép dán;
Trả lại bị cáo: 01 (một) điện thoại di động Iphone6Plus màu hồng đỏ, số Imel: 353333079585251, gắn số sim: 0971.209.425;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
{1} Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Các Quyết định của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai không bị oan, không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.
{2} Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Lê Ngọc D đã thừa nhận ngày 13/3/2023, tại thôn Đống, xã Cao Viên, huyện Thanh O, TP Hà Nội, Lê Ngọc D có hành vi tàng trữ trái phép 1,406 gam ma túy MDMA và 0,657 gam ma túy Ketamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật của vụ án.
Đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự, thì hành vi của Lê Ngọc D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
{3}.Xét tính chất: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào chế độ quản lý, sử dụng các chất gây nghiện do nhà nước độc quyền quản lý. Tội phạm còn là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, trực tiếp hủy hoại đến sức khoẻ bản thân người sử dụng và làm thiệt hại đến kinh tế gia đình và xã hội, còn là nguyên nhân lây truyền nhiều loại bệnh xã hội. Vì vậy phải có hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để trừng trị, dăn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo ở chỗ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết được quy định tại điểm s khản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xét xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để cho bị cáo sớm được trở về với gia đình vào xã hội.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho D, do không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể, Cơ quan CSĐT Công an huyện đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không đề cập xử lý, là có căn cứ.
Về nguồn gốc chiếc xe mô tô 29F1-39***, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của anh Nguyễn Văn Thế sinh năm: 1992, trú tại: thôn Bãi, xã Cao Viên, huyện Thanh O, TP Hà Nội). Anh Thế cho D mượn chiếc xe trên để đi làm, anh Thế không biết D sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội. Anh Thế trình bày mua chiếc xe trên vào năm 2020 với giá 12.000.000 đồng của một người đi đường, xe có biển số là: 24B2-251.12, tuy nhiên quá trình sử dụng anh Thế đã làm mất biển số xe, sau đó có nhặt được chiếc biển số xe 29F1-39*** nên đã gắn vào xe máy của mình. Ngày 25/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh O đã ra QĐ xử lý vật chứng bằng hình thức bàn giao chiếc xe mô tô cho Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Thanh O để xử lý theo quy định và xử phạt vi phạm hành chính đối với Thế về việc gắn biển số xe không đúng với giấy đăng ký xe.
Vật chứng của vụ án thu giữ:
-Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư hoàn lại sau giám định của Phòng PC09- Công an TP Hà Nội có chứ ký của Lê Ngọc D, Đc Phạm Trung Hiếu, Đ/c Nguyễn Văn Hà và giám định viên tại các mép dán;
Trả lại bị cáo: 01 (một) điện thoại di động Iphone6Plus màu hồng đỏ, số Imel: 353333079585251, gắn số sim: 0971.209.425;
-Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH;
1. Tuyên bố bị cáo: Lê Ngọc D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình Sự.
Xử phạt: Lê Ngọc D 24 (hai bốn) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2023.
3.Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu hủy: -Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư hoàn lại sau giám định của Phòng PC09- Công an TP Hà Nội có chứ ký của Lê Ngọc D, Đc Phạm Trung Hiếu, Đ/c Nguyễn Văn Hà và giám định viên tại các mép dán;
Trả lại bị cáo: 01 (một) điện thoại di động Iphone6Plus màu hồng đỏ, số Imel: 353333079585251, gắn số sim: 0971.209.425; Theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/6/2023 giữa chi cục thi hành án và cơ quan điều tra Công an huyện Thanh O, TP Hà Nội.
4. Về án phí: Căn cứ nghị quyết số: 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Ngọc D phải chịu: 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 16/6/2023.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; -VKSND Tp Hà Nội - Sở Tư pháp TP Hà Nội - VKS ND huyện Thanh O; - UBND xã Cao Viên; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ NGUYỄN TIẾN DŨNG |