vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Dương Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. 1/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Xuân T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày: 23-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Ngô Xuân Khanh.

2/ Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hai - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 185/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 16/01/2023 đối với bị cáo:

Dương Xuân T (Tên gọi khác: Nguyễn Tuấn A và Dương Hoàng Việt A), sinh năm 1983, tại tỉnh Bắc Ninh; Nơi ĐKHKTT: Thôn Lạng K, xã Tân L, huyện Lương T, tỉnh Bắc Ninh; chỗ ở: Căn hộ số A, Chung cư B, khu C, phường Phú L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Xuân Q và bà Vũ Thị B; Vợ tên Hoàng Hà L; Có 01 con, sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 14/4/2022, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 10 (mười) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma Ty và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma Ty, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2022/HS-ST.

- Ngày 27/5/2022, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 14 (mười bốn) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, buộc T chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 24 (hai mươi bốn năm) tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2022/HS-ST.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2021. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Đắk Tân, tỉnh Đắk Lắk trong một vụ án khác, đã được điều chuyển về Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương. Có mặt.

Bị hại: Bà Lý Bích H1, sinh năm 1994; Hộ khẩu thường trú: Số A, đường Nguyễn Văn N, phường B, quận Gò V, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số A, đường B, phường Tân Thới H, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp Tân Đ, xã Thành T, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre; tạm trú: Số E, đường Lê Hồng P, tổ F, khu phố G, phường Phú H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt

2/ Bà Nguyễn Thị Diễm M, sinh năm 2002; địa chỉ: Ấp Tân Đ, xã Thành T, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre. Có đơn xin vắng mặt

3/ Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp Tân Đ, xã Thành T, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre. Có đơn xin vắng mặt

4/ Ông Đỗ Minh Nh, sinh năm 1993; địa chỉ: Số A, khu phố B, phường Tân A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 04/2021, Dương Xuân T đến thuê Căn hộ số A, Chung cư B, khu C, phường Phú L, thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống. Trong thời gian sống tại tỉnh Bình Dương, do bản thân không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên T nảy sinh ý định đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, khoảng tháng 6/2021 (không xác định chính xác ngày) T truy cập vào mạng Internet để đặt mua 01 (một) bộ trang phục Công an nhân dân cùng quân hàm cấp Thiếu tá; 03 (ba) nón kê pi với giá tiền là 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng với mục đích để T sử dụng khi giao tiếp với người khác nhằm tạo lòng tin với những người đó là T đang công tác trong Lực lượng Công an nhân dân rồi dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau đó, vào ngày 20/7/2021 thông qua mối quan hệ quen biết với chị Nguyễn Thị Ngọc H2 thì Tu đã gặp gỡ và quen biết với chị Lý Bích H1 và qua nói chuyện T biết được chị H1 đang có ý định tìm người để nhờ xin cho chồng là Lê Trung D, sinh năm 1984, cư trú tại phường A, quận Gò V, Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang cai nghiện ma túy tại Trung tâm thanh thiếu niên số 2, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh được kết thúc cai nghiện trước thời hạn nên T nói dối với chị H1 bản thân T là cán bộ của Lực lượng Công an và đang công tác tại Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thuộc Bộ Công an (C04) và T hứa hẹn sẽ giúp lo cho chồng chị H1 được về trước thời hạn. Đồng thời, T yêu cầu chị H1 phải chuyển cho T số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng để T đi lo công việc thì chị H1 đồng ý. Tiếp đó, T yêu cầu chị H1 chuyển số tiền nêu trên vào tài khoản của chị H2 rồi chị H2 sẽ rút tiền đưa cho T. Do tin tưởng lời nói của T nên ngày 28/7/2021 chị H1 đã sử dụng dịch vụ Internet Banking của Ngân hàng Techcombank, số tài khoản 19035153909015 để chuyển số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng vào tài khoản Ngân hàng Vietcombank, số tài khoản 0281000638372 của chị Nguyễn Thị Ngọc H2. Sau khi chuyển tiền xong, chị H1 nhắn tin thông báo cho T biết là chị H1 đã chuyển tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng vào tài khoản của chị H2 theo yêu cầu của T. Đến buổi chiều ngày 29/7/2021, T đi đến nhà chị H2 và chở chị H2 đi đến Ngân hàng Á Châu - Chi nhánh T để rút tiền. Tại đây, T kêu chị H2 rút số tiền 180.000.000 (Một trăm tám mươi triệu) đồng đưa cho T, số tiền còn lại thì T cho chị H2 10.000.000 (Mười triệu) đồng và nhờ chị H2 chuyển số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng vào tài khoản Ngân hàng MB Bank (Ngân hàng Quân đội), số tài khoản 0121356789999 để T cho bạn gái là Nguyễn Thị Diễm M.

Đến ngày 01/8/2021, chị Lý Bích H1 đọc báo thì biết được vào ngày 31/7/2021, Dương Xuân T đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T bắt giam, giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đồng thời, chị H1 tìm hiểu thì biết được T không phải là cán bộ của Lực lượng Công an công tác tại Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thuộc Bộ Công an (C04) như những gì T đã nói với chị H1; đồng thời, do chị H1 biết được đã bị T lừa đảo chiếm đoạt số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng nên ngày 06/8/2021, chị H1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Dương Xuân T như nội dung nêu trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thu giữ số tài sản và các vật chứng của T, gồm: 01 (một) Tivi hiệu Sony loại 55 inch, màu đen; 01 (một) két sắt SOLD; 01 (một) tủ lạnh hiệu SANYO; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển số 61B2-172.10 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 (một) còng tay số 08; 01 (một) thẻ Visa của Ngân hàng Vietinbank tên Dương Hoàng Việt A; 01 (một) thẻ Visa của Ngân hàng ACB tên Nguyễn Tuấn A; 01 (một) Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình lái xe ô tô hạng B2 mang tên Dương Hoàng Việt A có chữ ký, mộc tên “Đại tá. TS Lê Quang Bon” mộc dấu đỏ “Trung tâm dạy nghề và đào tạo lái xe”; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1, số AN 183663 tên Nguyễn Tuấn A; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1, số 010181434059 tên Nguyễn Tuấn A; 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân số 012203624, ngày 18/01/2015 mang tên Nguyễn Tuấn A; 03 (ba) bảng tên Q.Chánh Thanh tra Dương Hoàng Việt A số 00568H; 02 (hai) bảng tên Kiểm toán viên Cao cấp mang tên Dương Hoàng Việt A số 00258H; 02 (hai) bảng tên Phòng Thẩm định Dương Hoàng Việt A số 00589H; 01 (một) bảng tên Vụ trưởng Vụ hợp tác Quốc tế - TTCP mang tên Nguyễn Tuấn A; 02 (hai) mũ kê pi màu xanh và 01 (một) mũ kê pi màu vàng của lực lượng Cảnh sát nhân dân; 01 (một) bộ quần áo Cảnh sát nhân dân cấp hàm thiếu tá; 01 (một) đôi giày, 01 (một) thắt lưng, 01 (một) cà vạt Công an nhân dân; 01 (một) ống kim loại hình tròn màu đen có chữ “B.M.F”, bên trong có 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại, hai cạnh sắc, mũi nhọn; 01 (một) Giấy nộp tiền ngày 06/7/2021 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam người nộp tên Dương Hoàng Việt A; 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân số 321731352 mang tên Nguyễn Thị Ngọc H2; 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng ACB số 15808487 mang tên Nguyễn Thị Ngọc H2; 01 (một) điện thoại di dộng hiệu Iphone 12 màu vàng đồng, số IMEI 356731119228732, có sim số 0937475117; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, số seri 350618543923630; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, màu vàng, có số IMEI 355660520960172, có sim số 0934867800 và số tiền 127.980.000 (Một trăm hai mươi bảy triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng;

Đối với các loại giấy tờ mang tên Nguyễn Tuấn A và Dương Hoàng Việt A thu giữ của Dương Xuân T, quá trình điều tra xác định: Trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến năm 2020, T thuê nhà và sinh sống tại Chung cư Topas City thuộc phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, T đã truy cập vào trang mạng Internet để tìm đặt làm giả các loại giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức nêu trên để nhằm mục đích sử dụng đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Ngày 08/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã có Công văn số 149/TB-CQCSĐT-HS để thông báo chuyển thông tin tội phạm, kèm theo các giấy tờ, tài liệu giả nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp nhận, điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh điều tra Công an thành phố T còn thu giữ nhiều loại giấy tờ, tài liệu khác (các bản phô tô) được đánh số bút lục từ số 230 đến số 232 (có danh sách kèm theo) quá trình điều tra, xác định: Các loại giấy tờ, tài liệu nêu trên không liên quan đến vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà Dương Xuân T thực hiện trên địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đây là các tài liệu, chứng cứ do T thực hiện hành vi có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, T khai nhận còn thực hiện nhiều hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên các địa bàn Thành phố Hà Nội; tỉnh Lâm Đồng; tỉnh Nghệ An; tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Đắk Lắk. Do đó, vào các ngày 26/8/2021 và 21/02/2022, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bình Dương có văn bản thông báo chuyển thông tin tội phạm kèm theo các tài liệu, chứng cứ nêu trên đến các Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh; Thành phố Hà Nội; tỉnh Lâm Đồng; tỉnh Nghệ An; tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Đắk Lắk để tiếp nhận, điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Đối với Nguyễn Thị Ngọc H2, quá trình điều tra xác định Hân không biết Dương Xuân T giả danh công an để lừa đảo chiếm đoạt số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng của chị Lý Bích H1. Sau khi biết sự việc trên, Hân đã chủ động chuyển trả lại chị H1 số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không đặt ra xem xét, xử lý đối với H2. Ngày 07/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 33/QĐ-CQCSĐT-HS để giao trả 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, màu vàng; 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân số 321731352 mang tên Nguyễn Thị Ngọc H2 và 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng ACB số 15808487 mang tên Nguyễn Thị Ngọc H2 là tài sản cá nhân và giấy tờ tùy thân không liên quan đến vụ án cho H2.

Đối với Nguyễn Thị Diễm M, sau khi nhận được 10.000.000 (Mười triệu) đồng do Nguyễn Thị Ngọc H2 chuyển vào tài khoản theo yêu cầu của Dương Xuân T, số tiền trên M đã gửi cho mẹ là bà Huỳnh Thị N 5.000.000 (Năm triệu) đồng. Số tiền còn lại 5.000.000 (Năm triệu) đồng M đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 20/02/2022, bà N đã tự nguyện đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giao nộp lại số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để trả lại cho chị Lý Bích H1.

Đối với số tiền 132.980.000 (Một trăm ba mươi hai triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng (trong đó: Thu giữ của Dương Xuân T số tiền 127.980.000 đồng và 5.000.000 đồng do bà Huỳnh Thị N tự nguyện giao nộp) quá trình điều tra, xác định đây là tài sản do T thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của bị hại Lý Bích H1 nên ngày 25/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 15/QĐ-CQCSĐT-HS để giao trả số tiền trên cho chị Hà. Hiện nay, chị H1 yêu cầu T phải bồi thường lại cho chị H1 số tiền 57.020.000 (Năm mươi bảy triệu không trăm hai mươi nghìn) đồng.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu vàng đồng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, thu giữ của Dương Xuân T, quá trình điều tra xác định: Đây là tài sản cá nhân do T sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T để đề nghị Tòa án tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển số 61B2-172.10, số khung 4215DY058516, số máy JF42E0058544 và giấy chứng nhận đăng ký xe thu giữ của Dương Xuân T, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do ông Đỗ Minh Nh đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy. Qua làm việc, ông Nh khai nhận đã bán xe mô tô biển số 61B2-172.10 (không nhớ rõ họ tên, địa chỉ của người mua) nhưng chưa tiến hành thủ tục sang tên. Sau đó, ông Nhân có nghe thông tin người mua xe bị bắt. Nay ông Nh không có ý kiến gì đối với xe mô tô trên, do ông đã nhận đủ tiền bán xe và đã giao xe cùng giấy tờ xe cho người mua. Đồng thời, Dương Xuân T khai nhận mua xe mô tô trên của Đỗ Minh Nh và chưa làm thủ tục đổi chủ sở hữu thì bị bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển số 61B2-172.10 là tài sản của Dương Xuân T, không liên quan đến vụ án nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T để đề nghị Tòa án tuyên quản thủ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 (một) Tivi hiệu Sony loại 55 inch, màu đen; 01 (một) két sắt SOLD và 01 (một) tủ lạnh hiệu SANYO thu giữ của Dương Xuân T, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Dương Xuân T, không liên quan đến vụ án nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T để đề nghị Tòa án tuyên quản thủ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 (một) còng tay số 08; 02 (hai) mũ kê pi màu xanh và 01 (một) mũ kê pi màu vàng của lực lượng Cảnh sát nhân dân; 01 (một) bộ quần áo Cảnh sát nhân dân cấp hàm thiếu tá kèm theo 01 (một) đôi giày, 01 (một) thắt lưng, 01 (một) cà vạt Công an nhân dân; 03 (ba) bảng tên Q.Chánh Thanh tra Dương Hoàng Việt A số 00568H; 02 (hai) bảng tên Kiểm toán viên Cao cấp mang tên Dương Hoàng Việt A số 00258H; 02 (hai) bảng tên Phòng Thẩm định Dương Hoàng Việt A số 00589H; 01 (một) bảng tên Vụ trưởng Vụ hợp tác Quốc tế - TTCP mang tên Nguyễn Tuấn A; 01 (một) ống kim loại tròn màu đen có chữ “B.M.F”, bên trong có 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại, hai cạnh sắc, mũi nhọn thu giữ của Dương Xuân T, quá trình điều tra xác định do T đặt mua qua mạng Internet của đối tượng (hiện chưa xác rõ họ tên, địa chỉ cư trú) để nhằm mục đích đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 01 (một) thẻ Visa của Ngân hàng Vietinbank tên Dương Hoàng Việt A; 01 (một) thẻ Visa của Ngân hàng ACB tên Nguyễn Tuấn A hiện không có giá trị sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã ra Quyết định chuyển các vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T để đề nghị Tòa án tịch thu, tiêu hủy.

Cáo trạng số 181/CT-VKSTDM ngày 18/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Dương Xuân T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Xuân T mức hình phạt từ 08 năm tù đến 09 năm tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo T tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2022/HS-ST ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Dương Xuân T đồng ý bồi thường cho bị hại chị Lý Bích H1 số tiền là 57.020.000 (Năm mươi bảy triệu không trăm hai mươi nghìn) đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu vàng đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh của Dương Xuân T.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) còng tay số 08; 02 (hai) mũ kê pi màu xanh và 01 (một) mũ kê pi màu vàng của lực lượng Cảnh sát nhân dân; 01 (một) bộ quần áo Cảnh sát nhân dân cấp hàm thiếu tá kèm theo 01 (một) đôi giày, 01 (một) thắt lưng, 01 (một) cà vạt Công an nhân dân; 03 (ba) bảng tên Q.Chánh Thanh tra Dương Hoàng Việt A số 00568H; 02 (hai) bảng tên Kiểm toán viên Cao cấp mang tên Dương Hoàng Việt A số 00258H; 02 (hai) bảng tên Phòng Thẩm định Dương Hoàng Việt A số 00589H; 01 (một) bảng tên Vụ trưởng Vụ hợp tác Quốc tế - TTCP mang tên Nguyễn Tuấn A; 01 (một) ống kim loại tròn màu đen có chữ “B.M.F”, bên trong có 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại, hai cạnh sắc, mũi nhọn; 01 (một) thẻ Visa của Ngân hàng Vietinbank tên Dương Hoàng Việt A; 01 (một) thẻ Visa của Ngân hàng ACB tên Nguyễn Tuấn A thu giữ của Dương Xuân T.

- Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án 01 (một) Tivi hiệu Sony loại 55 inch, màu đen; 01 (một) két sắt SOLD; 01 (một) tủ lạnh hiệu SANYO; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển số 61B2-172.10 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe của Dương Xuân T.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/7/2021, tại Căn hộ số 1015, Chung cư Bicosi, địa chỉ khu phố 1, phường Phú L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Dương Xuân T đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối, không đúng sự thật với bị hại chị Lý Bích H1 về việc T là cán bộ đang công tác tại Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thuộc Bộ Công an (C04), có nhiều mối quan hệ và hứa hẹn sẽ giúp cho chồng của chị H1 tên Lê Trung D đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm thanh thiếu niên số 2, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh được kết thúc cai nghiện trước thời hạn. Bị cáo T yêu cầu chị H1 phải chuyển khoản cho T số tiền là 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng. Sau khi nhận được tiền, T không thực hiện công việc như đã hứa hẹn mà chiếm đoạt số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng của chị H1 để tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình. Tài sản đã được thu hồi một phần và trả lại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nhưng đối với việc bị cáo liên tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở nhiều nơi cho thấy bị cáo không hề ăn năn hối cải về hành vi bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết ăn năn hối cải đối với bị cáo.

Tuy nhiên, căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T nên xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.

Ngày 27/5/2022, Dương Xuân T bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 14 (mười bốn) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, buộc T chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 24 (hai mươi bốn năm) tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2022/HS-ST. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của bản án nêu trên đối với bị cáo T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lý Bích H1 yêu cầu bị cáo Dương Xuân T phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 57.020.000 (Năm mươi bảy triệu không trăm hai mươi nghìn) đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 57.020.000 (Năm mươi bảy triệu không trăm hai mươi nghìn) đồng theo yêu cầu của bị hại. Xét đây là sự tự nguyện của bị cáo và phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Hà số tiền là 57.020.000 (Năm mươi bảy triệu không trăm hai mươi nghìn) đồng.

Về biện pháp tư pháp:

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu vàng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh thu giữ của Dương Xuân T là phương tiện T liên lạc với bị hại để thực hiện hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) còng tay số 08; 02 (hai) mũ kê pi màu xanh và 01 (một) mũ kê pi màu vàng của lực lượng Cảnh sát nhân dân; 01 (một) bộ quần áo Cảnh sát nhân dân cấp hàm thiếu tá kèm theo 01 (một) đôi giày, 01 (một) thắt lưng, 01 (một) cà vạt Công an nhân dân; 03 (ba) bảng tên Q.Chánh Thanh tra Dương Hoàng Việt A số 00568H; 02 (hai) bảng tên Kiểm toán viên Cao cấp mang tên Dương Hoàng Việt A số 00258H; 02 (hai) bảng tên Phòng Thẩm định Dương Hoàng Việt A số 00589H; 01 (một) bảng tên Vụ trưởng Vụ hợp tác Quốc tế - TTCP mang tên Nguyễn Tuấn A; 01 (một) ống kim loại tròn màu đen có chữ “B.M.F”, bên trong có 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại, hai cạnh sắc, mũi nhọn thu giữ của Dương Xuân T là công cụ T thực hiện hành vi phạm tội. Đối với 01 (một) thẻ Visa của Ngân hàng Vietinbank tên Dương Hoàng Việt A và 01 (một) thẻ Visa của Ngân hàng ACB tên Nguyễn Tuấn A hiện không có giá trị sử dụng và T không yêu cầu nhận lại. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) Tivi hiệu Sony loại 55 inch, màu đen; 01 (một) két sắt SOLD; 01 (một) tủ lạnh hiệu SANYO; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển số 61B2-172.10 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe thu giữ của Dương Xuân T không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 106, 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Dương Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Xuân T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng Điều 55, 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt 24 (hai mươi bốn) năm tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2022/HS-ST ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Buộc bị cáo Dương Xuân T chấp hành hình phạt chung là 30 (ba mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/8/2021.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 587, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc Dương Xuân T phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Lý Bích H1 số tiền là 57.020.000 (Năm mươi bảy triệu không trăm hai mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) còng tay số 08; 02 (hai) mũ kê pi màu xanh và 01 (một) mũ kê pi màu vàng của lực lượng Cảnh sát nhân dân; 01 (một) bộ quần áo Cảnh sát nhân dân cấp hàm thiếu tá kèm theo 01 (một) đôi giày, 01 (một) thắt lưng, 01 (một) cà vạt Công an nhân dân; 03 (ba) bảng tên Q.Chánh Thanh tra Dương Hoàng Việt A số 00568H; 02 (hai) bảng tên Kiểm toán viên Cao cấp mang tên Dương Hoàng Việt A số 00258H; 02 (hai) bảng tên Phòng Thẩm định Dương Hoàng Việt A số 00589H; 01 (một) bảng tên Vụ trưởng Vụ hợp tác Quốc tế - TTCP mang tên Nguyễn Tuấn A; 01 (một) ống kim loại tròn màu đen có chữ “B.M.F”, bên trong có 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại, hai cạnh sắc, mũi nhọn; 01 (một) thẻ Visa của Ngân hàng Vietinbank tên Dương Hoàng Việt A và 01 (một) thẻ Visa của Ngân hàng ACB tên Nguyễn Tuấn A.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu vàng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh của Dương Xuân T.

- Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 (một) tivi hiệu Sony loại 55 inch, màu đen; 01 (một) két sắt SOLD; 01 (một) tủ lạnh hiệu SANYO; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển số 61B2-172.10 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe của Dương Xuân T.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 116/QĐ-VKSND ngày 18/10/2022 và số 66/QĐ-VKSND ngày 20/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương).

4/ Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.851.000 (Hai triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5/ Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ