vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Án lệ số 45/2021/AL ngày 25/11/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối ca…

Xử phạt: Bị cáo Ngô Trung N 18 (mười tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2021. Kiến nghị Cơ quan điều tra cấp có thẩm quyền xem xét xử lý hành vi tấn công bị cáo Ngô Trung N của Nguyễn Minh H để tránh bỏ lọt tội phạm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Trung Nhựt - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Án lệ số 45/2021/AL ngày 25/11/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối ca…
  • Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày: 20/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoài Nam

Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Trường Sơn

2. Ông Nguyễn Thành Thông

3. Bà Nguyễn Thị Viễn Thoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Trung Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 20/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 1048/2022/TLST-HS, ngày 12/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 452/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Bị cáo:

Ngô Trung N năm 1993 tại Đồng Tháp; Thường trú: Lô H, khu dân cư ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Tạm trú: phường T, quận T, Thành phố H; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Trung N1 và bà Nguyễn Thị Yến N1; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 30/9/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/6/2013, đã xóa án tích (theo Bản án số 52/2011/HSST).

Bị cáo bị bắt giam từ ngày 24/12/2021 (Có mặt).

Người bào chữa: Ông Nguyễn Trung C, luật sư của Công ty L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa chỉ định cho bị cáo Ngô Trung N (Có mặt).

Bị hại:

1. Anh Huỳnh Vinh Q, sinh năm 1997

Thường trú: Khóm C, thị trấn L, D, Trà Vinh

Địa chỉ liên hệ: 87/1B/5 Tổ C, Khu phố B, đường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Hùng D, sinh năm 1955

Thường trú: D8/4 Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: 87/1B/5 Tổ C, đường B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

2. Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1994

Thường trú: Khóm E, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Minh H, anh Huỳnh Vinh Q và Ngô Trung N là nhân viên tại quán ăn L1, địa chỉ số F đường S, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhựt làm nhiệm vụ nhận đặt món ăn cho khách, anh Q và anh H là nhân viên phụ bếp tại quán.

Ngày 30/7/2018, N nhắc nhở anh Q và anh H nhiều lần về việc anh Q và anh H làm đồ ăn chậm dẫn đến khách có ý kiến. Khoảng 22 giờ cùng ngày, N tiếp tục nhắc nhở anh Q, thì bị anh Q đấm một cái trúng mặt của N, N không phản ứng lại, mà quay về vị trí làm việc, thì N nhìn thấy con dao Thái Lan (dài khoảng 20cm, lưỡi nhọn dài khoảng 10cm, cán nhựa màu vàng dài khoảng 10cm), đang để trên bàn ăn gần đó, N lấy con dao vào túi quần.

Đến khoảng 22 giờ 15 cùng ngày, khi anh Q đi bộ đến bãi giữ xe để lấy xe gắn máy ra về, thì N liền rút con dao trong túi quần, cầm dao bằng tay phải chạy đến đâm hai nhát trúng mạn sườn phải, hạ sườn phải của anh Q. Anh Q dùng tay đẩy N ra, rồi chạy đến chỗ bếp nướng của quán (cách chỗ anh Q bị N đâm khoảng 3m) lấy cây chĩa (dài khoảng 120cm, lưỡi dài khoảng 60cm, cán gỗ dài khoảng 60cm, dùng để quay heo) cầm hai tay chạy đến đâm một nhát trúng phần bụng phía bên phải của N. Còn anh H thấy anh Q bị N tấn công, nên lấy trong bếp một con dao (loại dao chặt xương, dài khoảng 30cm, lưỡi kim loại màu trắng sáng dài khoảng 20 cm, phần lưỡi rộng nhất khoảng 10cm, cán kim loại dài khoảng 10cm) cầm trên tay phải đứng trong quán, khi N chạy vào trong quán, anh H đứng đối diện với N chém 01 nhát trúng vai trái của N. Anh H tiếp tục chém N 01 nhát nữa nhưng không trúng, thì bị N cầm dao tay phải đâm 01 nhát trúng cổ trái làm anh H ngã xuống nền gạch bất tỉnh. Sau khi gây án, Ngô Trung N cầm con dao chạy bộ rời khỏi hiện trường. N đã vứt bỏ con dao trên đường tẩu thoát (không thu hồi được), rồi đón xe ôm đến Bệnh viện quận T để khâu vết thương trên vai trái và bỏ trốn.

Anh Q được đưa đến Bệnh viện X, huyện C cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện T (Quận A) điều trị, đến đầu tháng 9/2018 thì xuất viện. Anh H được đưa đến Bệnh viện H1 cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện A điều trị đến ngày 03/8/2018 thì xuất viện và được đưa đến Bệnh viện điều dưỡng phục hồi chức năng điều trị bệnh nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị. Sau đó, H được gia đình đưa về quê nhà để điều trị tiếp.

Tại Bản kết luận giám định số 696/TgT.18 ngày 28/8/2018 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố H kết luận giám định pháp y về thương tích của Nguyễn Minh H như sau:

“- Vết thương cổ trái, gây tổn thương tủy sống đoạn cổ 3-4 cổ, đã được khâu vết thương bảo tồn, hiện:

+ Còn một sẹo đâm kích thước 1,2 x 0,2cm tại cổ trái.

+ Mất cảm giác từ ngực trở xuống.

+ Rối loạn cơ tròn.

+ Liệt tứ chi: Sức cơ hai tay 01/5, hai chân 00/5.

- Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 94%.

- Thương tích do vật sắc nhọn tác động mạnh gây ra, rất nguy hiểm đến tính mạng đương sự, không ảnh hưởng thẩm mỹ”.

Tại Bản kết luận giám định số 697/TgT.18 ngày 28/8/2018 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố H kết luận giám định pháp y về thương tích của Huỳnh Vinh Q như sau:

“- Vết thương phần mềm tạo một sẹo tại vùng mạn sườn trái kích thước 2x0,6cm, ổn định. Thương tích do vật nhọn hình vòng cung có hai cạnh sắc gây ra (cây xăm gạo), không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

- Vết thương vùng hạ sườn phải thấu bụng gây thủng cơ hoành, thủng gan, thủng đầu tụy, đã được phẫu thuật lần một bằng nội soi ổ bụng khâu cơ hoành, khâu gan, dẫn lưu dưới gan, dẫn lưu màng phổi, phẫu thuật lần hai mở bụng, dẫn lưu vùng đầu tụy, mở dạ dày ra da, mở hỗng tràng ra da nuôi ăn, hiện còn:

+ Một sẹo đâm tại vùng hạ sườn phải kích thước 2 x 0,6cm.

+ Còn ống dẫn lưu tại vùng đầu tụy.

+ Các sẹo mổ và dẫn lưu tại: Vùng mạn sườn phải kích thước 3x3cm, vùng bụng kích thước 20x(0,8-2)cm; 1x0,8cm; 1,5x1,3cm và 1,3x1,3cm.

- Thương tích do vật sắc nhọn tác động gây ra, rất nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

- Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 88%”.

Tại Bản kết luận giám định số 697.B/TgT.18-22 ngày 28/02/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố H kết luận giám định pháp y về thương tích (Giám định bổ sung) của Nguyễn Minh H như sau:

“- Con dao Thái Lan như quý cơ quan mô tả có thể gây ra vết thương như đã giám định.

- Động tác và tư thế của bị can Ngô Trung N như quý cơ quan mô tả phù hợp với cơ chế hình thành vết thương như đã giám định”.

Tại Bản kết luận giám định số 697.B/TgT.18-22 ngày 03/3/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố H kết luận giám định pháp y về thương tích (Giám định bổ sung) của Huỳnh Vinh Q như sau:

“Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 697/TgT.18 ngày 28/8/2018 của Huỳnh Vinh Q, sinh năm 1997:

- Trung tâm Pháp y xin đính chính: “vết thương phần mềm tạo một sẹo tại vùng mạn sườn trái kích thước 2x0,6cm (ảnh 1.1)” trong Bản kết luận số 697/TgT.18 do sai sót trong quá trình soạn thảo văn bản đã viết nhầm thành “mạn sườn trái” thay vì “mạn sườn phải”. Do đó, Trung tâm Pháp y khẳng định lại: thương tích tại ảnh 1.1 thuộc vùng mạn sườn phải không phải mạn sườn trái như Bản kết luận số 697/TgT.18 nêu.

- Con dao như mô tả và hình ảnh quý cơ quan cung cấp có thể gây ra các thương tích nêu trong Bản kết luận số 697/TgT.18.

- Động tác và tư thế như quý cơ quan mô tả kèm theo đoạn clip, phù hợp gây ra được thương tích của đương sự”.

Kiểm tra dấu vết trên thân thể của N có 01 vết sẹo kích thước 8cmx0,5cm trên vai trái, 01 vết sẹo kích 1,8cmx0,7cm ở vùng bụng phải, phù hợp với lời khai của anh Q và anh H về việc dùng cây chĩa và dao tấn công N.

Ngày 08/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Ngô Trung N, về tội “Giết người”, do N không có mặt tại địa phương, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với N. Đến ngày 24/12/2021, N bị Phòng C1 Công an Thành phố H bắt giữ theo quyết định truy nã.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Ngô Trung N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Bị cáo N chưa bồi thường cho anh H và anh Q.

Tại Bản cáo trạng số 351/CT-VKS-P2 ngày 12/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Ngô Trung N về tội “Giết người” theo điểm a khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích, đánh giá những chứng cứ xác định hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Ngô Trung N từ 18 đến 20 năm tù về tội “Giết người”.

Luật sư Nguyễn Trung C bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát đề nghị truy tố đối với bị cáo. Luật sư chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì trong vụ án này các bị hại cũng có một phần lỗi. Bị hại Q còn đánh bị cáo trước, bị hại H còn không mâu thuẫn gì cũng dùng dao đâm bị cáo, cả hai bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hiện tại cha mẹ bị cáo đã chết, và không có anh chị em. Từ đó, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quan điểm truy tố.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, các bị hại,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị cáo và người bào chữa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Đánh giá hành vi của bị cáo:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án đã có cơ sở xác định:

Vào lúc 22 giờ ngày 30/7/2018, tại quán ăn L1, địa chỉ số F đường S, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt, bị cáo Ngô Trung N đã có hành vi dùng dao Thái Lan đâm 02 nhát vào vùng sườn phải của anh Huỳnh Vinh Q, gây thương tích cho anh Q với tỉ lệ 88% và dùng dao đâm 01 nhát vào vùng cổ trái của anh H, gây thương tích cho anh H với tỉ lệ 94%.

Do bị cáo N có hành vi giết 02 người nên tại Bản cáo trạng số 351/CT-VKS-P2 ngày 12/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Ngô Trung N về tội “Giết người” theo điểm a khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 30/7/2018, N nhắc nhở anh Q và anh H việc anh Q và anh H làm đồ ăn chậm dẫn đến khách có ý kiến. Đến 22 giờ cùng ngày, anh N tiếp tục nhắc nhở thì bị anh Q đấm một cái trúng mặt, N không phản ứng lại mà quay về vị trí làm việc. Mặc dù thời điểm đó N không phản ứng lại, đã quay về vị trí làm việc, tuy nhiên, N vẫn bực tức và đã thủ sẵn dao trong người. Đến khoảng 22 giờ 15 phút khi anh Q đi bộ đến bãi xe thì N đã dùng dao Thái Lan tấn công anh Q và anh H như trên.

Xét , chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà bị cáo N đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm tấn công vùng trọng yếu của các bị hại gây thương tích nặng, hành vi của N có tính chất côn đồ, coi thường pháp luật. Do đó, hành vi của bị cáo N phải bị áp dụng thêm tình tiết định khung là phạm tội “Có tính chất côn đồ”. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã trả hồ sơ điều tra bổ sung đề nghị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bổ sung thêm tình tiết phạm tội “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhưng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo N theo Cáo trạng số 351/CT-VKS-P2 ngày 12/7/2022.

Tuy nhiên, như phân tích ở trên, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn đủ cơ sở xét xử bị cáo N về tội “Giết người” theo điểm a và điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, năm 2011, bị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nên cũng cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị hại cũng có một phần lỗi nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo tấn công anh Q, H nhằm vào vùng trọng yếu của cơ thể dẫn đến thương tích với tỷ lệ là 88% và 94% là cố ý tước đoạt tính mạng của các bị hại nhưng hậu quả chết người không xảy ra, việc anh Q, anh H không chết là nằm ngoài mong muốn của bị cáo nên hành vi của bị cáo N thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 15, Điều 57 và Án lệ số 45/2021/AL ngày 25/11/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao để xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại cơ quan điều tra, anh Nguyễn Minh H yêu cầu bồi thường thiệt hại bao gồm: chi phí điều trị thương tích là 200.000.000 đồng, thiệt hại về vật chất là 310.000.000 đồng, tiền do tổn hại về sức khỏe, tinh thần là 500.000.000 đồng. Tổng số tiền anh H yêu cầu Ngô Trung N phải bồi thường là 1.010.000.000 đồng. Ông Dương Hùng D, đại diện theo ủy quyền của anh Huỳnh Vinh Q yêu cầu bồi thường thiệt hại gồm: chi phí điều trị thương tích là 92.000.000 đồng, thiệt hại về vật chất là 12.000.000 đồng, tiền do tổn hại về sức khỏe, tinh thần là 80.000.000 đồng. Tổng số tiền yêu cầu bị cáo N phải bồi thường là 184.000.000 đồng.

Trước khi mở phiên tòa, ông Dương Hùng D thay đổi mức yêu cầu bồi thường. Ông yêu cầu Tòa án buộc bị cáo Ngô Trung N phải bồi thường các chi phí như sau:

Tổng chi phí nằm viện là: 80 triệu đồng, tiền ăn của người bệnh 120 ngày là 36 triệu đồng, tiền thuê người nuôi bệnh là 36 triệu đồng, tiền dưỡng bệnh sau khi ra bệnh 90 ngày là 27 triệu đồng. Tổng chi phí là 179 triệu đồng.

Trước phiên tòa, anh Nguyễn Minh H có đơn đề nghị Tòa xét xử vắng mặt và đề nghị giải quyết vấn đề bồi thường theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường 179.000.000 đồng cho anh Huỳnh Vinh Q, xét đây là sự tự nguyện không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo bồi thường 179.000.000 đồng cho anh Q.

Đối với yêu cầu bồi thường của anh H: Anh H đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Trong quá trình điều tra và xét xử, anh không cung cấp được bất kì tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu của mình nên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của anh. Do vậy, Hội đồng xét xử tách yêu cầu bồi thường dân sự của anh H, dành quyền khởi kiện cho anh H trong một vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

Kiến nghị:

Đối với hành vi của anh Nguyễn Minh H có hành vi dùng dao tấn công bị cáo N, xét hành vi của bị cáo N khi tấn công anh Q đã chấm dứt, H không có liên quan đến mâu thuẫn giữa N và Q. Đúng ra khi sự việc xảy ra cần can ngăn và báo công an nhưng H lại dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên người bị cáo N. Dẫn tới việc N dùng dao chống trả đâm H trúng cổ. Hành vi tấn công N của H có dấu hiệu phạm tội. Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã trả hồ sơ để làm rõ hành vi trên nhưng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không khởi tố, truy tố đối với hành vi của H nên ngoài phạm vi xét xử của Tòa án.

Căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra cấp có thẩm quyền xem xét xử lý hành vi trên của anh Nguyễn Minh H để tránh bỏ lọt tội phạm.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và 8.950.000 (tám triệu chín trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Án lệ số 45/2021/AL ngày 25/11/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao:

Xử phạt: Bị cáo Ngô Trung N 18 (mười tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2021.

Kiến nghị Cơ quan điều tra cấp có thẩm quyền xem xét xử lý hành vi tấn công bị cáo Ngô Trung N của Nguyễn Minh H để tránh bỏ lọt tội phạm.

[2] Căn cứ Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 02/2022/NĐ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao:

Buộc bị cáo Ngô Trung N bồi thường cho anh Huỳnh Vinh Q số tiền 179.000.000 (một trăm bảy mươi chín triệu) đồng.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bị hại cho đến khi thi hành xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải bồi thường theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Dành quyền khởi kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Minh H trong một vụ kiện dân sự khi anh có yêu cầu.

[3] Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 8.950.000 (tám triệu chín trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ