vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Tuyên án 09/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo NGUYỄN TRỌNG QU phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo NGUYỄN TRỌNG QU 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/8/2023). Giao bị cáo cho UBND phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Trọng Qu và Võ Đình Ch phạm tội: "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo NGUYỄN TRỌNG QU phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày : 09 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình Ông Nguyễn Văn Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2023/TLST- HS ngày 05 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2023/HSST-QĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN TRỌNG QU, sinh ngày 29 tháng 3 năm 1989 tại Đà Nẵng. Nơi cư trú: Tổ 31, phường Th, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Tuấn, sinh năm 1960 và bà Văn Thị Mai Hương, sinh năm 1961; Gia đình bị cáo có 02 người con, bị cáo là con đầu; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Tú Lưu, sinh năm: 1992 và có 02 con lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. VÕ ĐÌNH CH, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1989 tại Đà Nẵng. Nơi cư trú: Tổ 04, Thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đình Sanh, sinh năm 1965 và bà Lục Thị Lễ, sinh năm: 1964; Gia đình bị cáo có 04 người con, bị cáo con thứ hai; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim Hoa, sinh năm 1991 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo: NGUYỄN TRỌNG QU và bị cáo VÕ ĐÌNH CH có ông Nguyễn M- Luật sư - Chi nhánh công ty luật TNHH luật Việt Tín Trung thành phố Đà Nẵng thuộc Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa

Bị hại:

Công ty TNHH Đại Minh D(Viết tắt là Công ty Đ) Địa chỉ: 131 Ng, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Trần Huỳnh Công M, sinh ngày: 13/3/1995.

Địa chỉ: 623/11 Tr, phường H, quận C, TP. Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Qu Nguyễn W(Viết tắt là Công ty Qu Ng)

Địa chỉ: Lô 01 L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo pháp luật của công ty: Bà Nguyễn Thị Tú L, sinh năm: 1992 Địa chỉ: 73 H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa

+ Ông Phạm Xuân V, sinh ngày 24/11/1988 Địa chỉ: Tổ 18, phường Kh, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt tại phiên tòa

+ Ông Trần Xuân Th, sinh năm: 1996 Địa chỉ: 61 H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 27 tháng 12 năm 2022, NGUYỄN TRỌNG QU điều khiển xe tải BKS 43H-026.37 cùng VÕ ĐÌNH CH đi giao hàng. Khi đến khu vực gần xưởng sản xuất nhôm của Công ty Đ thì Qu nhớ đến khoản nợ của Công ty Đ do Ông Trần Huỳnh Công M (sinh năm 1995, trú 623/11 Trường Chinh, Hoà Phát Cẩm Lệ; là giám đốc) nên nói với Châu: “Thằng Minh nợ tiền của công ty mà không chịu trả, ta với mi ghé xưởng của hắn coi có ở đó không để đòi tiền”. Qu điều khiển xe tải đến xưởng của Minh ở địa chỉ số 131 Nguyễn Khoa Chiêm, thuộc phường Hoà Phát, quận Cẩm Lệ thì thấy xưởng đóng cửa, không có người trông coi. Lúc này, Qu nghĩ Công ty Đ làm ăn thua lỗ nên đã tẩu tán tài sản để trốn nợ nên nảy sinh ý định cắt ổ khoá cửa, lấy tài sản của Công ty Đ để trừ nợ. Qu nói Châu: “Thằng Minh mua hàng, nợ tiền công ty, chuẩn bị sang xưởng cho người khác, ông vào cắt khoá, quay phim, cẩu máy về công ty để khi nào nó mang tiền trả thì trả máy lại cho hắn”. Châu đồng ý rồi ra xe tải lấy 01 máy cắt cầm tay, hiệu MOD MT: 2180 vào cắt ổ khoá trên cửa, Qu đứng gần đó dùng điện thoại cá nhân của mình quay video toàn bộ hành vi của Châu. Sau khi cắt khoá, Châu mở cửa, cả hai vào bên trong quan sát thì thấy bên trái xưởng có 01 máy cắt nhôm 08S, lưỡi 450 kí hiệu LHC2-450x3700A 380V 4,4kw, hiệu HHC Vinatech và 01 máy nén khí 300 lít (5.5kw) hiệu Polo. Qu nói Châu cắt hệ thống dây điện nối máy rồi đẩy máy nén khí Polo ra vỉa hè trước, máy cắt nhôm hai đầu do kích thước lớn nên để lại trong xưởng chờ xe tải cẩu do Qu gọi đến để cẩu lên. Khi Châu đẩy máy nén khí Polo ra ngoài trước cửa thì Qu gọi điện thoại cho dịch vụ xe cẩu của anh Phạm Xuân Vĩnh (sinh năm 1988, trú tổ 18, Khuê Trung, Cẩm Lệ) đến để vận chuyển máy móc. Một lúc sau, anh Vĩnh điều khiển xe tải cẩu BKS 43C-202.32 chở theo anh Trần Xuân Thuần (sinh năm 1996, trú Hoà Thọ Đông, Cẩm Lệ) đến cẩu máy nén khí Polo và máy cắt nhôm 08S, hiệu HHC Vinatech lên xe theo yêu cầu của Qu. Khi Qu cùng nhóm người chuẩn bị rời đi thì bị ông Trần Năm (sinh năm 1963, trú tổ 6, Hoà Phát, Cẩm Lệ; là cha ruột Ông Trần Huỳnh Công M) phát hiện, ngăn chặn lại và báo Công an phường Hoà Phát.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) máy cắt nhôm 08S cao cấp lưỡi 450 kí hiệu LHC2-450x3700A 380V 4.4kw;

- 01 (một) máy nén khí 300 lít (5.5kw) Polo;

- 01 (một) máy cắt cầm tay hiệu MOD MT2180;

- 01 (một) ổ khoá hiệu Việt Tiệp đã bị hỏng;

- 01 file ghi âm cuộc gọi tên Đại Minh_221227_135142.

- 05 đoạn video do Qu tự quay lại hành vi của Qu và Châu.

Theo Kết luận định giá số 39/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của UBND quận Cẩm Lệ, xác định giá trị máy cắt nhôm 08S, lưỡi 450 kí hiệu LHC2-450x3700A 380V 4,4kw, hiệu HHC Vinatech là 66.627.000 đồng và 01 máy nén khí 300 lít (5.5kw) hiệu Polo là 12.000.000 đồng. Tổng giá trị hai máy là 78.627.000 đồng (Bảy mươi tám triệu, sáu trăm hai mươi bảy nghìn đồng)

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSCL ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo NGUYỄN TRỌNG QU và VÕ ĐÌNH CH về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo NGUYỄN TRỌNG QU từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo VÕ ĐÌNH CH từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

+ Về trách nhiệm dân sự:

Đối với 01 (một) máy cắt nhôm 08S, lưỡi 450 kí hiệu LHC2-450x3700A 380V 4,4kw, hiệu HHC Vinatech và 01 (một) máy nén khí 300 lít (5.5kw) hiệu Polo sau khi tạm giữ để phục vụ điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ đã trả lại cho Ông Trần Huỳnh Công M và ông Mkhông yêu cầu gì về dân sự. Ông Myêu cầu bị cáo Quvà Châu khắc phục hậu quả số tiền 60 triệu đồng, 02 bị cáo Quvà Châu đã bồi thường, ông Mnhận đủ, có đơn bãi nại dân sự và giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 máy cắt cầm tay hiệu MOD MT2180 là tài sản của bị cáo Qusử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 ổ khoá Việt Tiệp của Ông Trần Huỳnh Công M đã hư hỏng không còn giá tri sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 03 đĩa CD chứa đoạn ghi âm cuộc gọi, 05 video hình ảnh phạm tội do Qu quay lại và ghi hình lời khai của đại diện theo pháp luật của bị hại Trần Huỳnh Công Minh, là chứng cứ nên đề nghị tiếp tục bảo lưu theo hồ sơ vụ án.

Luật sư Nguyễn Mbào chữa cho bị cáo NGUYỄN TRỌNG QU và VÕ ĐÌNH CH:

Thống nhất về tội danh, điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo. Trong vụ án này, xuất phát từ việc nợ tiền của Minh, Minh nợ tiền không chịu trả là nguyên nhân xảy ra sự việc, động cơ phạm tội của các bị cáo không vì động cơ tham lam, mà do hành vi trái pháp luật của bị hại, do các bị cáo suy nghĩ nông cạn, không am hiểu pháp luật, mục đích chiếm hữu tài sản buộc Minh phải có trách nhiệm trả nợ, mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Chlà người làm thuê cho Công ty Qu Ng, nhằm bảo vệ lợi ích của Công ty Qu Ng, mục đích Châu hỗ trợ Qu lấy lại tài sản. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có công việc ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, có con nhỏ, Châu có hoàn cảnh gia đình khó khăn được địa phương xác nhận, Qu gia đình có công cách mạng, Qu hành động do bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra mong hội đồng xét xử chiếu cố khi lượng hình.

Từ những phân tích nêu trên, kính mong Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, e, h, g khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 BLHS xin cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam.

Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cẩm Lệ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo NGUYỄN TRỌNG QU và VÕ ĐÌNH CH khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ cơ sở khẳng định:

Xuất phát từ việc Công ty Đ nợ Công ty Qu Ng số tiền 36.350.000 đồng (Ba mươi sáu triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng), sau nhiều lần Công ty Qu Ng đòi không được nợ, NGUYỄN TRỌNG QU (là chồng của chị Nguyễn Thị Tú Lưu - người đại diện theo pháp luật của Công ty Qu Ng) nghĩ rằng Minh đã tẩu tán tài sản, trốn nợ. Vì vậy, Công ty Qu Ng có ý định đến Công ty Đ lấy tài sản nhằm mục đích thu hồi nợ nên vào khoảng 13 giờ 10 phút ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại số 131 Nguyễn Khoa Chiêm, thuộc phường Hoà Phát, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, NGUYỄN TRỌNG QU cùng VÕ ĐÌNH CH (người làm thuê cho Công ty Qu Ng) đã có hành vi lén lút dùng máy cắt cầm tay cắt ổ khoá cửa, cắt hệ thống dây điện rồi chiếm đoạt 01 máy cắt nhôm 08S, lưỡi 450 kí hiệu LHC2-450x3700A 380V 4,4kw, hiệu HHC Vinatech và 01 máy nén khí 300 lít (5.5kw) hiệu Polo của Công ty Đ, với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 78.627.000 đồng (Bảy mươi tám triệu, sáu trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo NGUYỄN TRỌNG QU và VÕ ĐÌNH CH phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã lợi dụng lúc Ông Trần Huỳnh Công M là chủ Công ty Đ sơ hở trong việc quản lý, bảo quản tài sản của mình nên các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt của Ông Trần Huỳnh Công M là chủ Công ty Đ 01 máy cắt nhôm 08S, lưỡi 450 kí hiệu LHC2-450x3700A 380V 4,4kw, hiệu HHC Vinatech và 01 máy nén khí 300 lít (5.5kw) hiệu Polo của Công ty Đ, với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 78.627.000 đồng (Bảy mươi tám triệu, sáu trăm hai mươi bảy nghìn đồng). Hành vi này thể hiện các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 60.000.000 đồng, Công ty Qu Ng không yêu cầu Công ty Đ trả nợ nữa (xóa nợ), người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, gia đình bị cáo Qucó công cách mạng, hoàn cảnh gia đình bị cáo Chkhó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy: Đây là đồng phạm giản đơn, bị cáo Chlà người làm thuê cho Công ty Qu Ng, Qu và Châu đi giao hàng, trên đường đi giao hàng về thì đi ngang qua Công ty Đ, Qu nhớ đến khoản nợ của Công ty Đ nên Qu là người xúi giục, Châu là người thực hành làm theo Qu với mục đích là thu hồi nợ (số tiền 36.350.000 đồng (Ba mươi sáu triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng), cho Công ty Qu Ng. Vì vậy, bị cáo Quchịu trách nhiệm hình sự nặng hơn bị cáo Châu. Tuy nhiên, trong vụ án này động cơ, mục đích các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là để thu hồi nợ, do các bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế, các bị cáo thực hiện hành vi trái pháp luật mà tự quay lại hành vi sai trái của mình, tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt đã trả lại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho người bị hại số tiền 60 triệu đồng, các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đều là lao động chính trong gia đình, bị cáo Chnuôi 03 con nhỏ, bị cáo Qunuôi 02 con nhỏ, sức khỏe của vợ bị cáo không được tốt, hay đau ốm, vợ bị cáo Chkhông có việc làm. Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo thành người tốt, hơn nữa tạo điều kiện cho các bị cáo được nuôi con nhỏ và chăm sóc gia đình.

Đối với anh Phạm Xuân V và anh Trần Xuân Thkhông biết việc Qu trộm cắp tài sản của Công ty Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ không xử lý là có cơ sở.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi định giá phục vụ công tác điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ đã ra các Quyết định xử lý tài sản, đồ vật số 07/QĐ-CSĐT ngày 01 tháng 3 năm 2023 trả lại 01 (một) máy cắt nhôm 08S, lưỡi 450 kí hiệu LHC2-450x3700A 380V 4,4kw, hiệu HHC Vinatech và 01 (một) máy nén khí 300 lít (5.5kw) hiệu Polo cho Công ty TNHH Đại Minh Door, Ông Trần Huỳnh Công M đã nhận lại tài sản, theo biên bản về việc trả lại tài sản ngày 01 tháng 3 năm 2023, ông Mkhông yêu cầu gì về dân sự đồng thời có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Vậy phần dân sự đã giải quyết xong nên HĐXX không đề cập đến.

Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 máy cắt cầm tay hiệu MOD MT2180 là tài sản của bị cáo Qusử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, tịch thu tiêu hủyc

Đối với 01 ổ khoá Việt Tiệp của Ông Trần Huỳnh Công M không còn giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

Đối với 03 đĩa CD chứa đoạn ghi âm cuộc gọi, 05 video hình ảnh phạm tội do Qu quay lại và ghi hình lời khai của đại diện theo pháp luật của bị hại Trần Huỳnh Công Minh, là chứng cứ nên tiếp tục bảo lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại các điểm b, e, h, g khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 BLHS. HĐXX chấp nhận áp dụng điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 BLHS, không chấp nhận áp dụng các điểm e, h, g khoản 1 Điều 51 BLHS. Bởi vì điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS quy định: “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra”. Trong trường hợp này là việc bị hại nợ tiền, đòi không trả thì kiện ra Tòa, khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền, không có việc gì phải kích động tinh thần.

Điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS quy định: “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”. Thiệt hại gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần, trong trường hợp này thiệt hại do tài sản và uy tín bị xâm phạm.

Điểm g khoản 1 Điều 51 BLHS quy định: “Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra”. Các bị cáo phạm tội do mình tự gây ra, nếu các bị cáo không thực hiện hành vi như nêu trên thì không có sự việc xảy ra. Vì vậy, đối chiếu quy định của pháp luật, trong vụ án này không có căn cứ áp dụng các điểm e, h, g khoản 1 Điều 51BLHS như đề nghị của luật sư.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo NGUYỄN TRỌNG QU phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

+ Xử phạt bị cáo NGUYỄN TRỌNG QU 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/8/2023). Giao bị cáo cho UBND phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo VÕ ĐÌNH CH phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

+ Xử phạt bị cáo VÕ ĐÌNH CH 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/8/2023). Giao bị cáo cho UBND xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên HĐXX không đề cập đến

4. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 01 máy cắt cầm tay hiệu MOD MT2180 là tài sản của bị cáo Qusử dụng để thực hiện hành vi phạm tộị.

Tịch thu tiêu hủy 01 ổ khoá Việt Tiệp của Ông Trần Huỳnh Công M không còn giá trị sử dụng

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 7 năm 2023 giữa công an quận quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).

5. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, những người tham gia tố tụng tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt có quyền kháng cáo với thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ