vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cái Răng, TP. Cần Thơ Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần H Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần H Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 21/12/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN HUỆ ĐỨC - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần H Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN C R
THÀNH PHỐ C T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày: 27/04/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C R, THÀNH PHỐ C T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Thanh Trí.

Bà Lê Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phi Liễu – Thư ký Tòa án nhân dân quận C R, thành phố C T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C R tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Thiện – Kiểm sát viên.

Vào ngày 27 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C R xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2023/HSST, ngày 17 tháng 03 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST-HS ngày 04/04/2023 đối với bị cáo

Trần H Đ, sinh năm 1991, tại C T;

Nơi thường trú: 233/39A Nguyễn Văn Cừ, phường A H, quận N K, thành phố C T; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cha không rõ họ tên và con bà Trần T T V; Vợ: Nguyễn T N P; Con: Có 01 người con tên Trần N B A, sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần, ngày 27/01/2021 bị công an phường H P, quận C R xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo bị bắt giữ ngày 21/12/2022, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận C R, thành phố C T.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Ông Lê T N, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 01 đường D24 khu dân cư Hồng Loan, khu vực 5, phường H T, quận C R, thành phố C T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định trộm cắp tài sản bán tiêu xài cá nhân nên khoảng 17 giờ 10 phút ngày 28/01/2021, bị cáo Trần H Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 69E1-049.57 đi đến khu dân cư Hồng Loan thuộc phường H T, quận C R, thành phố C T tìm tài sản để lấy trộm. Khi lưu thông đến đường D24 khu dân cư Hồng Loan, phường H T, quận C R, bị cáo phát hiện 01 chiếc xe đạp thể thao màu xám, đen hiệu TRINX của ông Lê T N đậu trước cửa rào nhà số 01 không người trông coi. Lúc này, bị cáo Đ dừng lại, và đậu xe môtô biển kiểm soát 69E1-049.57 cách xe đạp khoảng 10 mét rồi đi bộ đến lấy trộm chiếc xe đạp, sau đó di chuyển khoảng được 05 mét thì bị người dân và lực lượng Công an phát hiện nên mời về trụ sở làm việc và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 01 môtô biển kiểm soát 69E1-049.57; 01 xe đạp màu xám đen loại thể thao hiệu TRINX.

Kết luận định giá số 22/TCKH-HĐĐG ngày 18/02/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C R, thành phố C T xác định: 01 xe đạp thể thao màu đen, xám nhãn hiệu TRINX định giá được là: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Quá trình điều tra, bị cáo Trần H Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại: 01 xe đạp thể thao màu đen, xám nhãn hiệu TRINX cho ông Lê T N là chủ sở hữu hợp pháp.

Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKS-CR, ngày 16 tháng 03 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận C R truy tố bị cáo Trần H Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung 2017.

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị như sau:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần H Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 và Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần H Đ từ 06 (Sáu) năm đến 09 (Chín) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát số 69E1-049.57 đề nghị tiếp tục tạm giữ tại Cơ quan Thi hành án dân sự quận C R bảo quản, hết thời hạn 01 năm không tìm được chủ sở hữu thì đề nghị tịch thu sung công theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và trình tự, thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra và truy tố đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không khiếu nại gì về thủ tục tố tụng.

Đối với bị hại ông Lê T N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, trong quá trình điều tra đã có ý kiến, việc vắng mặt của ông Nhân không gây trở ngại cho việc xét xử do đó Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt ông Nhân theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận khoảng 17 giờ 10 phút ngày 28/01/2021, bị cáo Trần H Đ điều khiển xe môtô biển kiểm soát số 69E1-049.57 đi đến khu dân cư Hồng Loan thuộc phường H T, quận C R, thành phố C T tìm tài sản để lấy trộm. Khi lưu thông đến nhà số 01 đường D24 khu dân cư Hồng Loan, phường H T, quận C R, bị cáo phát hiện 01 chiếc xe đạp thể thao màu đen, xám hiệu TRINX của bị hại đang đậu trước cửa rào nên nảy sinh ý định và lấy trộm tài sản.

Tại kết luận định giá số 22/TCKH-HĐĐG ngày 18/02/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C R, thành phố C T xác định: 01 (Một) xe đạp thể thao màu đen, xám nhãn hiệu TRINX định giá được là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Lời thừa nhận của bị cáo sau khi lén lút trộm lấy được tài sản của bị hại thì bị phát hiện là nhằm mục đích bán lấy tiền để mua tả và sửa cho con đang bị bệnh. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản định giá và các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra lại tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nằm trong khung 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) và dưới 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) nên phải chịu tình tiết định khung theo quy định tại khỏan 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Do vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điều khoản luật đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo đã thành niên, có khả năng lao động nhưng lại lười biếng, tham lam, chỉ muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Bị cáo biết hành vi thực hiện của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý vi phạm, bất chấp pháp luật cho thấy ý thức chủ quan của tội phạm là cố ý thực hiện.

Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có tiền sự chưa được xóa. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo chưa có tiền án và trong quá trình điều tra bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Trên cơ sở xem xét toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa lỗi lầm trở thành người có ích cho xã hội sau này.

Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại vắng mặt dù được tòa án triệu tập hợp lệ qua các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần H Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trần H Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 21/12/2022.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát số 69E1 – 049.57; loại Dream, màu nâu, không kiểm tra được số khung; số máy: LC150FMG01123947, xe không bửng xe, không có mặt đồng hồ xe, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong máy thì tiếp tục tạm giữ và đăng trên phương tiện báo đài tìm kiếm chủ sở hữu, trong thời hạn một năm tính từ ngày thông báo công khai trên phương tiện báo đài để tìm chủ sở hữu tài sản nếu sau thời hạn này mà không xác định được ai là chủ sở hữu tài sản thì đề nghị tịch thu sung công theo Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015.

Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận C R, thành phố C T đã xử lý trả lại 01 (Một) xe đạp thể thao màu đen, xám nhãn hiệu TRINX cho ông Lê T N.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần H Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ