vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 20/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Trung M 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 09/5/2023). 2- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trung M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày 20 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Tùng - Kiểm sát viên;

Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 42/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Trung M, sinh năm 1975 tại huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc K và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Trần Thị T (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 134/QĐ-XPHC ngày 24/11/2022, Chủ tịch UBND xã H, huyện L xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản; bị bắt tạm giam ngày 09/5/2023; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.

- Bị hại: Viễn thông Bắc Giang; người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn L, sinh năm 1969, chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm Viễn thông L (Giấy ủy quyền số 527/VNPT-BG-NSTH ngày 03/7/2023); có đơn xin xét xử vắng mặt

- Người làm chứng:

+ Ông Vũ Trí H, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt

+ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi chiều ngày 06/3/2023, Trần Trung M đi nhặt phế liệu ở khu vực xứ đồng C thuộc tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L thì phát hiện thấy có các đường ống kim loại dùng để chứa dây cáp quang viễn thông nhô lên mặt nước, đặt dài theo hướng từ thị trấn Đ đi xã T, huyện L; M nảy sinh ý định trộm cắp các đoạn ống kim loại đó đem đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Do ban ngày và có đông người qua lại nên M không giám thực hiện hành vi trộm cắp mà đi về nhà. Khoảng 04 giờ ngày 07/3/2023, M đem theo 01 chiếc xà cầy, 01 chiếc cưa sắt, 03 chiếc cờ lê cho vào 01 chiếc bao tải rồi đi bộ đến địa điểm trên. Khi đến nơi, M dùng tay rút 02 ống kim loại ra, dùng cưa sắt cắt 02 ống kim loại thành 04 đoạn rồi vác 04 đoạn kim loại lên bãi đất trống ở gần đó, M chuẩn bị dùng cưa cắt ngắn các ống kim loại để dễ vận chuyển đem đi bán thì đúng lúc này tổ tuần tra của Công an thị trấn Đ phát hiện bắt quả tang.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 22/3/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 04 đoạn ống bằng kim loại có khối lượng 97 Kg trị giá 776.000 đ (Bảy trăm bảy mươi sáu nghìn đồng chẵn).

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 44/QĐ-VKS-LN ngày 06 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Trần Trung M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Trung M từ 06 - 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, miễn phạt bổ sung; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu của Trần Trung M 01 chiếc xà cầy, 01 chiếc cưa, 03 chiếc cờ lê, 01 bao tải để tiêu hủy; bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo Trần Trung M trình bày: Ngày 07/3/2023, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam là đúng. Bị cáo nhất trí với bản kết luận định giá tài sản; bị cáo bị khởi tố, truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội; bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì; nói lời sau cùng bị cáo đề nghị được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Tòa án kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.

Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Trung M luôn thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ ngày 07/3/2023, lợi dụng đêm tối, bị cáo Trần Trung M đi đến xứ đồng C thuộc tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang lấy trộm 02 đoạn ống bằng kim loại của cơ quan Viễn thông Bắc Giang; bị cáo dùng cưa cắt 02 ống kim loại thành 04 đoạn mục đích đem đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân thì bị phát hiện bắt quả tang. Tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá = 776.000 đ (Bảy trăm bảy mươi sáu nghìn đồng chẵn).

Hành vi trên của bị cáo Trần Trung M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan Viễn thông Bắc Giang, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Mặc dù tài sản bị cáo trộm cắp trị giá dưới hai triệu đồng, nhưng ngày 24/11/2022 bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, hành vi trộm cắp tài sản ngày 07/3/2023 của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Trần Trung M về tội danh trên theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy bị cáo Trần Trung M là đối tượng nghiện ma túy, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa chấp hành nộp phạt lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Chứng tỏ bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta. Xem xét các tình tiết để quyết định mức hình phạt thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố, xét xử luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy hình phạt giành cho bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng, trách nhiệm dân sự:

Tài sản bị cáo Trần Trung M chiếm đoạt đã được thu hồi, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho bị hại; người đại diện của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nữa nên không đặt ra giải quyết.

Khi bắt quả tang có thu giữ của bị cáo Trần Trung M 01 chiếc xà cầy, 01 chiếc cưa, 03 chiếc cờ lê, 01 bao tài. Xét thấy những đồ vật trên bị cáo đem theo để nếu cần thì sử dụng làm phương tiện phạm tội, bị cáo sử dụng chiếc cưa để cắt 02 ống kim loại trộm cắp được thành 04 đoạn; những đồ vật trên đều có giá trị không đáng kể nên cần tịch thu toàn bộ để tiêu hủy.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bị cáo Trần Trung M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Trung M 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 09/5/2023).

2- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu của Trần Trung M 01 chiếc xà cầy, 01 chiếc cưa, 03 chiếc cờ lê, 01 bao tài để tiêu hủy.

Vật chứng, đồ vật trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.

3- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Trần Trung M phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án xét xử vắng mặt./.

Cỡ chữ