- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của BLHS; Điều 106 Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HS-ST Ngày 04/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Trần Quang Huyền
2. Bà: Đinh Thị Đức
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên
Trong ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường Nhà văn hóa xóm Khuôn Nanh, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự đã thụ lý số: 37/2023/TLHS-ST ngày 21/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HS ngày 23/3/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lâm Văn Q, sinh ngày 13 /12 /1990
Nơi cư trú: xóm K, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Giới tính: nam; Tên gọi khác: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán chí; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 6/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Con ông: Lâm Văn H (đã chết). Con bà: Hầu Thị L (đã chết).
Gia đình: Có 07 anh chị em. Bị cáo là con thứ 07 trong gia đình.
Vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1994, đã ly hôn.
Con: có 01 con sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên toà).
*. Người làm chứng:
Anh: Phạm Văn Q1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm Q, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau:
Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 15/12/2022, Tổ công tác Công an xã Y - huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành tuần tra đảm bảo an ninhh trật tự trên địa bàn xã Y. Khi đến nhà anh Phạm Văn Q1 (sinh năm 1981, trú tại: xóm Q, xã Y) thì thấy anh Q1 và 01 người đàn ông đang ngồi trong nhà anh Q1 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính, người đàn ông chấp hành, khai tên là Lâm Văn Q, sinh năm 1990, trú tại xóm K, xã Y và đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong người. Sau đó, Q tự giác lấy từ trong mũ áo đỏ của Q đang mặc trên người ra 01 gói nhỏ bằng giấy mầu trắng bên trong có 02 gói giấy mầu vàng chứa chất bột mầu trắng, Q khai là chất ma túy loại Heroine của Q giao nộp cho Tổ công tác. Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng là 02 gói chất bột mầu trắng nêu trên. (Niêm phong vào phong bì ký hiệu (A), chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đại Từ để xác minh, xử lý.
Hồi 19 giờ 00 phút ngày 16/12/2022, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đại Từ khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, địa điểm của Lâm Văn Q. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 15/12/2022, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đại Từ phối hợp cùng Phòng KTHS - Công an tỉnh Thái Nguyên mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột mầu trắng trong phong bì A có khối lượng 0,144 gam. (Niêm phong vào bì ký hiệu A1 làm mẫu trưng cầu giám định). Vỏ giấy gói và vỏ bì A được niêm phong vào bì ký hiệu A2.
- Tại Kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:
+ Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,144 gam.
Tại cơ quan điều tra, Lâm Văn Q khai như sau: Bản thân Q là người nghiện chất ma túy. Khoảng hơn 09 giờ ngày 15/12/2022, Q một mình đi bộ từ nhà ở xóm K, xã Y đi đến khu vực cầu nối liền giữa hai xóm Q và xóm K – xã Y mục đích tìm mua chất ma túy để sử dụng. Tại đây, Q gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết. Người đàn ông hỏi Q có mua ma túy Heroine không, Q đồng ý mua và bảo người đàn ông bán cho Q 02 gói Heroine. Q đưa cho người đàn ông đó 400.000 đồng. Người đàn ông nhận tiền rồi đưa cho Q 01 gói giấy mầu trắng, Q mở ra thấy bên trong có 02 gói giấy mầu vàng bên trong có chất bột mầu trắng là chất ma túy loại Heroine. Q cất gói ma túy nêu trên vào mũ áo khoác đang mặc rồi đi đến nhà anh Phạm Văn Q (sinh năm 1981, trú tại: xóm Q, xã Y) để sử dụng chất Heroine thì bị Tổ công tác Công an xã Y thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận của Lâm Văn Q phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
- Vật chứng của vụ án gồm:
+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là mẫu ma túy còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong là vỏ gói ma túy thu giữ của Q và vỏ phong bì ký hiệu A).
Toàn bộ số vật chứng trên được bảo quản, lưu giữ tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ’ chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 41/ CT-VKSĐT ngày 20/3/2023 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lâm Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Kết thúc phần tranh tụng, đại diện VKSND huyện Đại Từ giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lâm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lâm Văn Q mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là mẫu ma túy còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong là vỏ gói ma túy thu giữ của Q và vỏ phong bì ký hiệu A).
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
. Về căn cứ buộc tội:
Tại phiên tòa bị cáo Q đã khai báo: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15/12/2022, tại nhà ở của anh Phạm Văn Q1 thuộc xóm Q, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Lâm Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,144 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã Y bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Lời khai nhận của Lâm Văn Q phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến; vật chứng thu giữ, kết luận giám định.
Như vậy hành vi tàng trữ 0,144 gam Heroine của Lâm Văn Q đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật như sau:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm vào mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…..
c) Heroine….. có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam.
. Xét tính chất hành vi:
Xét về tính chất hành vi của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người mà còn ảnh hưởng và suy hao kinh tế là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo là nghiện ma tuý, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội nên cần xử lý nghiêm.
. Về hình phạt:
Căn cứ vào tình chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo Q mức án từ 18 đến 24 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện, không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên miễm hình phạt bổ sung cho bị cáo
. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là mẫu ma túy còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong là vỏ gói ma túy thu giữ của Q và vỏ phong bì ký hiệu A).
. Về nguồn gốc chất Heroine: Lâm Văn Q khai mua của 01 người đàn ông không quen biết ở khu vực cầu thuộc xóm K, xã Y, huyện Đ nên Cơ quan CSĐT
- Công an huyện Đại Từ không có căn cứ để điều tra, xử lý.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ nêu trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của BLHS; Điều 106 Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn Q 20 (Hai mươi) tháng tï. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/12/2022.
2. Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Quyết định tạm giam bị cáo Lâm Văn Q 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
4. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là mẫu ma túy còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong là vỏ gói ma túy thu giữ của Q và vỏ phong bì ký hiệu A).
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 38/QĐ-VKSĐT ngày 20/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ)
5. Về án phí: Buộc bị cáo Lâm Văn Q phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sở thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên (1b); - Công an huyện Đại Từ (3b); - VKSND huyện Đại Từ (1b); - VKSND tỉnh Thái Nguyên (1b); - Chi cục THADS huyện Đại Từ (1b); - THAHS (2b); - Bị cáo (1b); - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Kao Hoàng |