vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 20/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về hình phạt: Áp dụn điểm g khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đ : 03 (ba) năm tù, nhưn cho hưởn án treo, thời ian thử thách l 05 (năm) năm, tính từ n y tuyên án sơ thẩm (ngày 20/9/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đ - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ SÊ
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS - ST
Ngày 20 – 9 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ , TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Siu Y Bít.

Ông Đỗ Trí Thuyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tào Thị Mỹ Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Mạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2023/TLST- S n y 15 thán 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

B Đ , sinh năm 1989 tại Gia Lai; Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn C1 , huyện C1 , tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông;Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Đặn Xuân (đã chết) và bà Thiều Thị 1 , sinh năm 1962; Có chồn l Trần Khánh D , sinh năm 1987 v 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đầu thú v bị tạm iam từ ngày 04/4/2023, iện đan bị tạm iam tại Nh tạm iữ Côn an huyện C , tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phan Văn C , sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ 4, thị trấn E , huyện J , tỉnh Đăk Nôn .Vắng mặt.

2. Chị Lữ Thị Tuyết L , sinh năm 1974 và anh Nguyễn Văn P , sinh năm 1972.Cùn địa chỉ: Làng Bak Kuao, xã I , huyện C1 , Gia Lai.Vắng mặt.

3. Anh Đặng Quốc H2 , sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn C1 , huyện C1 , tỉnh Gia Lai. Có mặt.

4. Anh Lê Thành P2 , sinh năm 1974; Địa chỉ: thôn 6, xã C3 , huyện E3, tỉnh Đăk Lăk.Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Bùi Thái B4 , sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp Gò Đá, xã M4, huyện T4 , tỉnh Tây Ninh.Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn T5 , sinh năm 1997; Địa chỉ: thôn 2, xã E5, huyện E4 , tỉnh Đăk Lăk.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ đến 12 giờ ngày 07/12/2022, B Đ , điều khiển xe mô tô BKS: 81T1- 06061 đi đến nhà Bà H (SN: 1993, trú tại thôn Đôn

, thị trấn C1 , huyện C1 , tỉnh Gia Lai) để lấy hàng Chả nem. Khi đến lấy hàng, B Đ ngồi chơi với Bà H khoản 10 phút đến 15 phút, Bà H hỏi B Đ “ tết đã mua sắm được ì chưa ” B Đ trả lời “chị làm gì có tiền mà sắm tết” v Bà Đ nói với Bà H là B Đ về để đi ra ngã ba P (xã I, huyện C1 , tỉnh Gia Lai) để mua thuốc sâu. Nghe vậy, Bà H hỏi B Đ “chị có quen ai bên Đăk Lăk không chở giúp em 02 (hai) thùng hàng ra ngã ba P , huyện C1 gửi hộ em qua Đăk Lăk với”, thì B Đ hỏi Bà H “chở đi đâu?”, Bà H trả lời “chở đi Bến xe phía Nam – tỉnh Đăk Lăk”. B Đ trả lời “để chị chở chả về rồi quay lại”. Sau đó B Đ chở chả nem về nhà và quay lại nhà Bà H để chở hàng giúp Bà H . Khi đến nhà Bà H , B Đ hỏi Bà H h n đâu để B Đ chở giúp thì Bà H nói để trước nhà. B Đ nhìn thấy 02 (hai) thùn h n khôn hi địa chỉ n ười nhận, n ười gửi, B Đ hỏi Bà H “ sao khôn có địa chỉ ” thì Bà H nói “ chị có quen ai ở bên đấy không nhận hộ em với ”. B Đ trả lời “chị không quen ai ở Bến xe phía nam mà chỉ quen chú Cường taxi ở n ã tư huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nôn thôi”. N he vậy, Bà H nhờ B Đ ghi hộ số điện thoại chú Cường taxi l n ười nhận hàng thì B Đ đồng ý. B Đ hỏi Bà H số điện thoại n ười gửi thì Bà H nói với B Đ con của Bà H đan sốt, B Đ ghi giúp Bà H số điện thoại của B Đ lên thùng hàng thì B Đ đồng ý. B Đ trực tiếp lấy viết ghi nội dun “ N ã tư Cư Rút 0935073636; n ười gửi 0328578004” lên 02 (hai) thùng hàng. Bà H nói khi n o chú Cường nhận được thì Bà H sẽ liên hệ cho chú Cường chở h n v o cho n ười mua hàng và nói B Đ “ chị cứ gửi tiền cước đi rồi sau về em tính luôn” B Đ đồn ý. Khi đưa 02 (hai) thùn hàng lên xe mô tô BKS: 81T1- 06061 thấy nặng nên B Đ hỏi Bà H là hàng gì thì Bà H nói là mật ong. Vì thấy 02 (hai) thùng hàng nặng B Đ hỏi lại “mật ong mà nhiều vậy , đừng nói là chở hàng lậu đấy nhé” thì Bà H nói “em đùa chị đấy l hoa chơi tết”, B Đ hỏi lại Bà H “hoa chơi tết l ì?” thì Bà H nói “49, pháo hoa bắn tết”. Lúc n y B Đ biết trong 02 (hai) thùng hàng mà Bà H nhờ chở giùm là pháo hoa nổ loại 49 ống nên sợ khôn đồng ý chở. Lúc này, Bà H nói “có ì đâu m sợ, có gì em chịu trách nhiệm cho, nhà em ở đây mà. Cái này tết n ười ta vẫn bắn bình thườn có sao đâu m sợ”. B Đ vẫn lưỡng lự thì Bà H nói với B Đ “chị có muốn sắm tết không, đi rồi về em cho chị mượn 4.000.000đ (Bốn triệu đồn ) mua đồ tết” thì B Đ đồng ý chở và nói với Bà H “có ì m y chịu trách nhiệm đấy”. Trước khi đi Bà H có dặn B Đ “ lát nhà xe có hỏi thì nói là mật ong chứ đừn nói ra l cái ì nha” B Đ trả lời “ừ, chị biết rồi”. Sau khi đưa h n lên xe mô tô BKS: 81T1- 06061 xong thì B Đ chở ra ngã ba P , xã I , huyện C1 . Trên đườn đi ra n ã ba P thì B Đ sử dụn điện thoại trắng – đen (khôn xác định được loại, hiệu gì) có số thuê bao 0328578004 liên hệ với nhà xe PB Đ Trinh để gửi 02 (hai) thùng hàng của Bà H đi Đăk Nôn nhà xe PB Đ Trinh đồng ý nhận hàng của B Đ tại ngã ba P , xã I . Khi B Đ điều khiển xe mô tô BKS: 81T1- 06061đi đến gần n ã ba đường rẽ vào nhà Nguyễn Văn P (SN: 1972, trú tại làng Bak Kuao, xã I , huyện C1 , tỉnh Gia Lai) thì xe B Đ hết xăn nên B Đ dừng ở lề đường. Lúc này Phụn điều khiển xe mô tô BKS: 81B1- 626.09 đi một mình ngang qua thì B Đ nhờ Phụng chở giúp 02 (hai) thùng hàng này ra ngã ba P để ở cột điện giúp B Đ thì Phụn đồng ý (khi nhờ B Đ nói với Phụn đây l hai thùng mật ong). Phụng chở 02 (hai) lần, mỗi lần một thùng hàng. Sau khi Phụng chở thùng hàng cuối cùng thì B Đ dắt xe đi theo sau ra đến ngã ba P , B Đ cảm ơn Phụn v sau đó Phụn điều khiển xe mô tô rời đi. B Đ ngồi đợi khoảng 10 phút thì xe ô tô BKS: 47B – 02420 do tài xế Bùi Thái B4 trực tiếp điều khiển, phụ xe là Nguyễn Văn T5 của nhà xe PB Đ Trinh đến. Khi Bảo và Tiền xuống nhận hàng thì B Đ nói đây l 02 (hai) thùn mật ong. Bảo và Tiền không kiểm tra hàng bên trong mà bốc hàng lên xe và tiếp tục đi theo lộ trình. B Đ đã trả 200.000đ ( ai trăm n n đồng) tiền cước cho Tiền. Khi xe ô tô BKS: 47B-02420 đi đến địa phận TDP6, thị trấn Chư Sê, huyện C , tỉnh Gia Lai thì Công an huyện C đã tiến hành kiểm tra h nh chính đối với xe ô tô khách BKS: 47B – 024.20 phát hiện trong thùng xe khách có 02 (hai) thùng xốp được dán kín bằng băn keo mà vàng, bên trong thùng xốp thứ nhất chứa 20 (hai mươi ) hộp giấy kín, có cùn kích thước( 17x17x10)cm, bên ngoài đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4 – 4911L BILLION LIVE – 49 SHOTS” và thùng xốp thứ hai có 06 (sáu) hộp giấy kín, có cùng kích thước ( 17x17x10)cm, bên n o i đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4 – 4911L BILLION LIVE – 49 SHOTS” và 02(hai) hộp giấy kín, có cùn kích thước( 17x17x10)cm, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4 – 4911A BILLION TIME A – 49 SHOTS, tổng trọng lượng là 47kg và thu giữ: Xe ô tô khách BKS: 47B – 024.20.

Quá trình điều tra, xác minh đã tạm giữ: Xe mô tô BKS: 81B1- 626.09; 01(một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, số IMEI: 869055041472750, số thuê bao: 0762168478;01(một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 5s, số IMEI: 352086075730930, số thuê bao: 0373899147; Số tiền 200.000đ ( ai trăm nghìn đồng) do Nguyễn Văn T5 giao nộp (là số tiền bị can B Đ đã trả tiền cước cho nhà xe PB Đ Trinh).

N y 09 /12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Côn an huyện Chư Sê ra quyết định trưn cầu iám định số: 173, trưn cầu Phòn kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai Giám định tan vật nghi là pháo trong vụ việc nói trên.

Ngày 14/12/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai có kết luận iám định số: 870/KL - KTHS kết luận: 28 (hai mươi tám) hộp giấy kín, bên n o i đều dán giấy màu, gồm 26 (hai mươi sáu) hộp giấy kín, bên ngoài đều dám giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4 – 4911L BILLION LIVE – 49 SHOTS” và 02 (hai) hộp giấy kín, bên n o i đều dám giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4 – 4911A BILLION TIME A – 49 SHOTS”, bên trong mỗi hộp đều có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau đựng trong 02 (hai) thùng xốp chuyển đến iám định là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 47,0kg.

-N y 10 thán 7 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trưn cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai iám định: Mẫu chữ viết trong Bản tự khai/Bản tườn trình, Đơn Xin xác nhận, lý lịch tự khai của B Đ và Biên bản giao nhận cáo trạng và mẫu chữ viết trên 02( hai) nắp thùng xốp thu giữ n y 07/12/2022 đều ghi nội dun : “ N ã tư cư rút 0935073636 - n ười gửi: 0328578004”có phải do cùng một n ười viết ra hay không?

Tại Bản kết luận số: 631/KL- KTHS, ngày 21/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Chữ viết trên 02 (hai) nắp thùng xốp, mẫu cần iám định so với chữ viết của B Đ trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một n ười viết ra.

Tại Bản cáo trạn số: 28A/CT - VKS ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C , tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo B Đ về tội “Vận chuyển h n cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C sau khi phân tích, đánh iá các tình tiết, chứn cứ của vụ án, iữ n uyên quyết định truy tố, đề n hị ội đồn xét xử:

- Tuyên bố bị cáo B Đ phạm tội “Vận chuyển h n cấm”.

- Áp dụn điểm g khoản 2 Điều 191; các điểm s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật ình sự; xử phạt B Đ từ 2 năm đến 3 năm tù, nhưn cho hưởn án treo, thời ian thử thách từ 4 năm đến 5 năm.

-Về hình phạt bổ sun : Khôn áp dụn hình phạt bổ sun đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứn : Đề n hị tịch thu sun côn số tiền 200.000đồn bị cáo sử dụn v o việc phạm tội; Tịch thu tiêu hủy số pháo l tan vật của vụ án.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo B Đ khai nhận h nh vi phạm tội đún như Cáo trạn đã truy tố, bị cáo ăn năn, hối cải về h nh vi đã thực hiện, tron thời ian bị tạm iam bị cáo đã nhận thức được việc l m sai trái của mình, bị cáo xin ội đồn xét xử khoan hồn , cho bị cáo được hưởn mức hình phạt thấp nhất, được hưởn án treo để có điều kiện chăm sóc mẹ i , nuôi hai con ăn học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C , Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện C , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đún thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo v n ười tham gia tố tụn khác khôn có n ười nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụn , n ười tiến hành tố tụn . Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụn , n ười tiến hành tố tụn được thực hiện đều hợp pháp.

. Về căn cứ kết tội và tội danh đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo B Đ khai nhận hành vi phạm tội đún như Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của n ười làm chứng, n ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận iám định và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở khẳn định:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 07/12/2022, B Đ đến nhà Bà H , tại thôn Đôn

, thị trấn C1 , huyện C1 , tỉnh Gia Lai đế lấy hàng chả nem, khi được Bà H hứa hẹn nếu B Đ giúp Bà H gửi 02 (Hai) thùng xốp bên trong có chứa pháo hoa nổ loại 49 ống pháo từ nhà Bà H sang Bến xe phía Nam tỉnh Đăk Lăk thì Bà H sẽ cho B Đ mượn số tiền 4.000.000đồn để mua sắm tết, vì muốn có tiền để mua sắm tết nên B Đ đồng ý giúp Bà H , sau đó B Đ đã trực tiếp viết lên 02 thùng hàng mà Bà H nhờ B Đ gửi với nội dun : “N ã tư Cư rút 0935073636; n ười gửi 0328578004”, rồi B Đ sử dụng số điện thoại 0328578004 để liên hệ với nhà xe Phươn Trình chạy tuyến Kon Tum – Tây Ninh để gửi hàng san Đăk Lăk, khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, tại ngã ba P , xã I , huyện C1 , B Đ gửi 02 thùng hàng này cho xe ô tô của nhà xe Phươn Trinh có Biển kiểm soát 47B – 024.20 do lái xe Bùi Thái B4 điều khiển và có phụ xe là Nguyễn Văn T5 , B Đ gửi tiền cước vận chuyển l 200.000đồng cho Nguyễn Văn T5 . Khi xe ô tô này đi đến địa phận thị trấn Chư Sê, huyện C thì bị Công an huyện C khám xét, thu giữ toàn bộ tang vật. Tại kết luận Giám định số 870/KL – KTHS ngày 14/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Vật đựng trong 02 thùng xốp là pháo hoa nổ, tổng khối lượng là 47,0kg; Tại bản kết luận iám định số 631/KL – KTHS ngày 21/7/2923 chữ viết trên 02 nắp thùng xốp có nội dun “N ã tư Cư rút 0935073636; n ười gửi 0328578004” l chữ viết của B Đ .

Xét hành vi của bị cáo thấy rằng: Bị cáo l n ười có đủ năn lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được pháo hoa nổ là mặt h n nh nước cấm lưu thôn , việc vận chuyển trái phép pháo hoa nổ là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, thế nhưn bị cáo vẫn thực hiện tội phạm. Với hành vi vận chuyển trái phép 47,0 kg pháo hoa nổ, B Đ đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạn số 28A/CT - VKS ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C , tỉnh Gia Lai đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đún n ười, đún tội.

. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, vi phạm quy định của nh nước về quản lý sử dụng pháo nổ.Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tươn xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

. Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăn nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt thể hiện ở việc bị cáo khôn có tiền án, tiền sự, chưa vi phạm pháp luật ì, n o i lần phạm tội n y bị cáo chấp h nh chính sách pháp luật v thực hiện đầy đủ n hĩa vụ côn dân tại nơi cư trú, bị cáo có ho n cảnh ia đình khó khăn, có 02 con nhỏ, mẹ i yếu, là lao độn chính tron ia đình,việc n y được chính quyền địa pB Đ nơi bị cáo cư trú xác nhận.

Về tình tiết iảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, tại cơ quan điều tra v tại phiên tòa bị cáo th nh khẩn khai nhận về h nh vi phạm tội, ăn năn hối hận về việc đã ây ra; Ngày 03/12/2022, bị cáo có công báo tin, tố iác iúp Cơ quan CSĐT Côn an huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai phát hiện vụ việc t n trữ trái phép chất ma túy, vụ việc n y đã được Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện đưa đối tượn phạm tội ra xét xử v o n y 19/5/2023, có văn bản xác nhận của Cơ quan CSĐT Côn an huyện Phú Thiện v o n y 09/6/2023, đây l nhữn tình tiết iảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật ình sự.

Về tình tiết tăn nặn trách nhiệm hình sự: Bị cáo khôn có tình tiết tăn nặn trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật ình sự.

Về hình phạt:

Căn cứ v o quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phươn . Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo có nhân thân tốt,n o i lần phạm tội n y bị cáo chấp h nh chính sách, pháp luật v thực hiện đầy đủ n hĩa vụ côn dân tại nơi cư trú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tron đó có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăn nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ r n , có khả năn tự cải tạo, nên không cần phải cách ly bị cáo khởi đời sống xã hội, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo.Bị cáo có đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ – ĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết số 01/2022/NQ – ĐTP n y 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Quyết số 02/2018/NQ – ĐTP n y 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụn Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/5/2022; Mặt khác, bị cáo đã bị tạm giam từ n y 04/04/2023 đến nay, thời gian tạm iam n y đã cho bị cáo thấy được sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũn iúp bị cáo nhận thức được việc làm sai trái của mình; Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, ội đồng xét xử xét thấy để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo một cơ hội để tự cải tạo, sửa chữa thành n ười có ích thì không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo là tươn xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, đảm bảo tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo riên đối với bị cáo v côn tác đấu tranh, phòng ngừa chun đối với tội phạm.

.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh ia đình khó khăn, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sun đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 200.000đồng là tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ.

Đối với vật tang vật chứng là 21 ( ai mươi mốt) hộp iấy, bên n o i dán iấy in m u, có khối lượn 35,2k ; 01 (một) hộp iấy, bên ngoài dán iấy in m u có khối lượn 1,7k (l mẫu vật còn lại sau khi trích mẫu iám định được niêm phon tron 01 thùn xốp có đón dấu niêm phon của Phòn KT S Côn an tỉnh Gia Lai); 01 (một) thùn xốp đựn mẫu vật, l vật cấm nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe ô tô BKS: 47B- 02420, là phươn tiện mà Bùi Thái B4 đã vận chuyển hàng cấm cho B Đ . Quá trình điều tra xác định đây l t i sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Yến T. Nhưn khi nhận chở 02 thùng pháo thì anh Bùi Thái B4 và bà Nguyễn Thị Yến T không biết đây l pháo hoa nổ. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Lê Thành P2 , n ười được bà T ủy quyền là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô BKS: 81B1- 626.09 mà Nguyễn Văn P điều khiển chở 02 thùng pháo cho B Đ . Quá trình điều tra xác định đây l t i sản hợp pháp của bà Lữ Thị Tuyết L (vợ của Nguyễn Văn P ). Nhưn khi nhận chở giùm B Đ 02 thùng pháo hoa nổ ông Nguyễn Văn P , bà Lữ Thị Tuyết L không biết đây l pháo hoa nổ. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Lữ Thị Tuyết L là phù hợp.

Đối với 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO,số IMEI: 869055041472750(đã qua sử dụng) v 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5s, số IMEI: 352086075730930. Quá trình điều tra xác định đây l t i sản của ông Nguyễn Văn P khôn liên quan đến việc phạm tội.Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Nguyễn Văn P là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô BKS: 81T - 06061 là phươn tiện mà B Đ đã sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định đây l t i sản hợp pháp của anh Đặng Quốc H2 . Việc B Đ sử dụng chiếc xe mô tô BKS: 81T -06061 để vận chuyển hàng cấm, anh Huy không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C , tỉnh Gia Lai đã khôn thu iữ đối với xe mô tô BKS: 81T1- 06061 mà trả lại cho anh Huy là phù hợp.

Đối với chiếc điện thoại di động trắng – đen (khôn xác định được loại, hiệu gì), có số thuê bao 0328578004 mà bị cáo B Đ đã sử dụn để liên lạc với nhà xe PB Đ Trinh, để vận chuyển hàng cấm( pháo hoa nổ). Sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong quá trình sử dụng bị cáo đã l m mất không thu hồi được nên khôn đề cập xử lý.

.Nội dun khác liên quan đến vụ án:

Đối với Bà H l n ười đã nhờ và giao 02 thùng pháo hoa nổ cho B Đ chuyển dùm gửi đi Đăk Lăk. nh vi của Bà H có dấu hiệu của tội Buôn bán, vận chuyển hàng cấm theo quy định tại Điều 190,191 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, sau khi nhờ B Đ vận chuyển dùm 02 thùng hàng( pháo hoa nổ) thì ngày 01/02/2023, Bà H đã bị đột tử và chết nên khôn đề cập xử lý. Đối với nguồn gốc 02 thùng hàng( pháo hoa nổ) của Bà H , Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi n o có căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn P , khi được B Đ nhờ chở giúp 02 (hai) thùng pháo hoa nổ, nhưn Phụng không biết đây l 02 (hai) thùn pháo hoa nổ. Do đó, Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện C không xử lý đối với Nguyễn Văn P về tôi Vận chuyển hàng cấm theo Điều 191 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Đối với Bùi Thái B4 và Nguyễn Văn T5 , khi B Đ gửi 02 (hai) thùng pháo hoa nổ cho nhà xe Phươn Trinh, B Đ nói với B4 và T5 đây l 02 ( ai) thùng mật ong. Nên khi nhận hàng B4 và T5 không kiểm tra hàng hóa bên trong thùng, nên không biết đây là hàng cấm ( pháo hoa nổ). Do đó, Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện C không xử lý đối với Bùi Thái B4 và Nguyễn Văn T5 về tội Vận chuyển hàng cấm theo Điều 191 Bộ luật hình sự là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

2.Về hình phạt: Áp dụn điểm g khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đ : 03 (ba) năm tù, nhưn cho hưởn án treo, thời ian thử thách l 05 (năm) năm, tính từ n y tuyên án sơ thẩm (ngày 20/9/2023).

Giao bị cáo Đ cho Ủy ban nhân dân thị trấn C1 , huyện C1 , tỉnh Gia Lai iám sát, iáo dục tron thời ian thử thách.

Trườn hợp n ười được hưởn án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 68, 92 Luật Thi h nh án hình sự.

Tron thời ian thử thách, nếu n ười được hưởn án treo cố ý vi phạm n hĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc n ười được hưởn án treo chấp h nh hình phạt tù của bán án đã cho hưởn án treo.

3. Áp dụn khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụn hình sự: Tuyên trả tự do cho bị cáo Đ n ay tại phiên tòa, nếu bị có khôn bị tạm iam về một tội phạm khác;

4. Về xử lý vật chứn : Áp dụn khoản 1 Điều 47 Bộ luật ình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụn hình sự;

-Tịch thu sun côn quỹ 200.000đồn , l số tiền bị cáo B Đ sử dụn v o việc phạm tội.

-Tịch thu tiêu hủy:

+ 21 ( ai mươi mốt) hộp iấy, bên n o i dán iấy in m u, in chữ nước n o i v chữ KS4 – 4911L BILION LIVE – 49 SHOTS, có khối lượn 35,2kg;

+ 01 (một) hộp iấy, bên n o i dán iấy màu,in chữ nước n o i v chữ KS4 – 4911A BILION TIMEA – 49 SHOTS có khối lượn 1,7k (l mẫu vật còn lại sau khi trích mẫu iám định) được niêm phon tron 01 thùn xốp có đón dấu niêm phon của CÔNG AN TỈN GIA LAI – P ÒNG KĨ T UẬT ÌN SỰ v các chữ ký hi họ tên N uyễn Minh Tâm, N uyễn Trọn Dũn v Võ Tuấn Anh;

+ 01 (một) thùn xốp (thùng đựn mẫu vật.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/8/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện C , tỉnh Gia Lai).

5.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 24, 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đ phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm .

6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án, n ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, n hĩa vụ của mình, nhữn n ười vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ