- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trọng H phạm tội "Cướp tài sản" - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Trọng H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2023/HS-PT Ngày: 27/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thư
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Thanh Thảo
Bà Đinh Thị Quý Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ái Vi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2022/TLPT - HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Phạm Trọng H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Bị cáo kháng cáo: Phạm Trọng H; (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1983; Tại: Bình Phước; Nơi cư trú: Ấp I, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T; Sinh năm 1953 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S; Sinh năm 1953; Có vợ là Đoàn Thị Thùy D; Sinh năm 1985 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2022 đến ngày 15/8/2022 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 04/6/2022, Nguyễn Thanh T1, Lại Hồng T2 và Trần Văn B đến quán karaoke “Minh Thư” tại ấp D, xã T, huyện Đ do Phạm Trọng H làm chủ quán để hát karaoke. Do lúc này đã khuya, nên H nói nếu vào hát thì tính tiền gấp đôi thì cả ba đồng ý. H dẫn T1, T2, B vào phòng số 03, Bùi Nhựt T3 là nhân viên của quan mang vào 02 đĩa trái cây. H nhận ra T1, T2, B là nhân viên của quán Karaoke B" tại khu phố T, thị trấn T, huyện Đ. Do nghĩ T1, T2, B đến quán của mình mục đích lôi kéo nhân viên nữ của quán đến làm việc cho quán B” nên H chửi mắng T1, T2, B. Do bị H chửi nên T1, T2, B không muốn tiếp tục hát karaoke nữa và đi về thì H yêu cầu phải trả 2.000.000 đồng tiền thuê phòng và tiền trái cây thì T1, T2, B đồng ý và T1 đưa cho H 2.000.000 đồng. Khi T1, T2, B đi ra khỏi phòng hát số 03, H không cho về mà bắt tất cả ngồi lại ghế sofa tại hành lang của quán. Tại đây, H nói T3 và Và Bá D1 là nhân viên quán đứng trông coi T1, T2, B còn H dùng tay, chân và 01 (một) chiếc dép nhựa đánh nhiều cái vào mặt, đầu T1, T2, B rồi H yêu cầu mỗi người đưa cho H 1.000.000 đồng thì mới cho về. Do bị đánh và thấy cổng quán khoá nên T2 lấy 3.000.000 đồng đưa cho H. Sau khi lấy 3.000.000 đồng, H tiếp tục yêu cầu T1, T2, Bé tắt nguồn điện thoại di động và đưa ví cho H kiểm tra và H lấy thêm 210.000 đồng trong ví của B còn T1, T2 đã hết tiền. Khi thấy H đánh T1, T2, B để lấy tiền thì T3 gọi điện thoại cho Trần Duy N đến quán để can ngăn. Nghiệp đến căn ngăn H, đồng thời nói T3 mở cổng quán cho T1, T2, B đi về. Cùng ngày, T1, T2 và B đã đến Công an xã T sự việc. Tại Cơ quan điều tra Phạm Trọng H đã khai nhận hành vi của mình, đồng thời giao nộp số tiền 5.210.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) chiếc dép bằng nhựa, màu trắng, mặt dưới đế dép có ký hiệu “LLL; VK; 999”;
- 01 (một) chai thủy tinh trong suốt, có nắp bằng thủy tinh, cao 0,21m, rộng nhất 0,25m, thân dạng tròn, có ký hiệu trên thân chai “SÁU PHƯỚC 2010, BÁCH HOA TỬU, 22% 500ml”;
- 01 (một) USB màu đen đỏ, nhãn hiệu SanDisk dung lượng 08Gb, bên trong chứa 01 file video dung lượng 157Mb, được trích xuất từ đầu thu camera màu đen, hiệu NOISIA đã được niêm phong;
- 01 (một) bình xịt hơi cay Take Down;
- Số tiền 5.210.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phạm Trọng H phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 168; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50 và 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trọng H 02 (hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ bắt bị cáo đề chấp hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2022 đến ngày 15/8/2022.
Áp dụng khoản 6 Điều 168 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo Phạm Trọng H số tiền 10.000.000đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 03/10/2022 bị cáo Phạm Trọng H có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Phạm Trọng H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Trọng H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Trọng H được làm trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Trọng H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nêu, cụ thể:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 04/6/2022 do nghĩ Nguyễn Thanh T1, Lại Hồng T2, Trần Văn B đến quán karaoke Minh T4” do H làm chủ tại ấp D, xã T, huyện Đ để hát karaoke với mục đích lôi kéo nhân viên nữ của quán H nên H chửi, không cho T1, T2, B ra về. H nói T3 và Và Bá D1 là nhân viên quán đứng trông coi T1, T2, B để H dùng tay, chân, 01 (một) chiếc dép nhựa đánh nhiều cái vào mặt, đầu T1, T2, B rồi yêu cầu mỗi người đưa cho H 1.000.000 đồng. Sau khi lấy 3.000.000 đồng của T1, T2, B, H yêu cầu T1, T2, Bé tắt nguồn điện thoại di động và đưa ví cho H kiểm tra và H lấy thêm 210.000 đồng trong ví của B còn T1, T2 đã hết tiền. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo H phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo H thấy rằng:
Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người có thành tích xuất sắc trong công tác được UBND tỉnh B, UBND huyện Đ tặng nhiều Bằng khen; có nhiều đóng góp đối với các hoạt động xung kích và tình nguyện tại địa phương; đang nuôi con nhỏ và lao động chính trong gia đình, có bố ruột được Bộ Q tặng Bằng khen trong thời gian tại ngũ quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xử phạt bị cáo 02 năm tù và phạt bổ sung 10.000.000 đồng là có căn cứ.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: hành vi phạm tội bị cáo mặc dù thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nhưng tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra không lớn, do bức xúc nên nhất thời phạm tội, hơn nữa bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, tham gia rất nhiều công tác tình nguyện tại địa phương (bút lục 63 – 75). Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu là xác nhận chính quyền địa phương có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Xét, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo mà không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, bị cáo đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Trọng H.
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với các bị cáo Phạm Trọng H.
Tuyên bố bị cáo Phạm Trọng H phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 168; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 50, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trọng H 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27/6/2023)
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì thời gian cho hưởng án treo được tính vào thời hạn tù. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 6 Điều 168 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo Phạm Trọng H số tiền 10.000.000 đồng.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Trọng H không phải chịu.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Phước; - Sở Tư pháp; - TAND, VKS, CA huyện Đ; - CQTHAHS CA huyện Đ; - CQĐT CA huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; - UBND xã Tân Lập; - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thư |