vanban.org

Bản án 42/2023/HNST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Lan đối với anh Shen Cheng Chu về việc “Ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Ngọc Lan ly hôn với Shen Cheng Chu. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Lan đối với anh Shen Cheng Chu về việc “Ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25-4-2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Nhựt

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lý

Ông Nguyễn Văn Chiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2021 về việc “Ly hôn” giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Lan, sinh năm 1976

Địa chỉ: 115, ấp 1, xã Phước Khánh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Shen Cheng Chu, sinh năm 1977

Địa chỉ: 292 Sec 3, Chung Shan Road, Lin 11 His Chou Village His – Chou Hsiang Chang Hua Country Taiwan R.O.C.

(chị Lan có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Chu vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Lan trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Qua mai mối hôn nhân mà không qua sự tìm hiểu nhau, chị và anh Shen Cheng Chu đã kết hôn với nhau. Hai bên đã làm thủ tục đăng ký kết hôn và đã được UBND tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 29, quyển số 01/2002, ngày 29/01/2022. Sau khi kết hôn chị đã sang Đài Loan, Trung Quốc sống cùng anh Shen Cheng Chu. Tuy nhiên, do bất đồng ngôn ngữ, không phù hợp tính cách nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Sau một năm chung sống anh Shen Cheng Chu đã đồng ý để chị trở về Việt Nam và từ đó hai bên không còn liên lạc với nhau. Nay chị Lan đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Shen Cheng Chu.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có. Nên chị Lan không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Shen Cheng Chu nhưng anh Shen Cheng Chu không cung cấp văn bản ý kiến và không đến Tòa án làm việc do vậy không có lời khai.

- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Lan đối với anh Shen Cheng Chu về việc “Ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Lan được ly hôn đối với anh Shen Cheng Chu.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: chị Lan khai không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Ngọc Lan có hộ khẩu tại địa chỉ 115, ấp 1, xã Phước Khánh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Anh Shen Cheng Chu cư trú tại 292 Sec 3, Chung Shan Road, Lin 11 His Chou Village His – Chou Hsiang Chang Hua Country Taiwan R.O.C. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

[2] Về người tham gia phiên tòa: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Lan có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt lập ngày 25/6/2021, bị đơn anh Shen Cheng Chu vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt chị Lan và anh Shen Cheng Chu.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Lan:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Ngọc Lan và anh Shen Cheng Chu trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn và đã được UBND tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 29, quyển số 01/2002, ngày 29/01/2022 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo chị Lan trình bày thì vợ chồng chị chỉ chung sống với nhau được 01 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ và không có tiếng nói chung. Chị và anh Shen Cheng Chu đã không còn liên lạc với nhau kể từ khi chị về Việt Nam sau một năm chung sống.

Từ năm 2003 đến nay cả hai bên không còn liên lạc với nhau, mỗi người sống một nơi không còn khả năng đoàn tụ, tình cảm không còn nên mục đích hôn nhân không đạt được.

Tòa án đã tiến tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật cho bị đơn, anh Shen Cheng Chu đã nhận văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không cung cấp ý kiến bằng văn bản, hoặc có ý kiến phản hồi, cho thấy anh Shen Cheng Chu không quan tâm, bỏ mặc quan hệ hôn nhân này.

Xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị đã đầy đủ căn cứ cho ly hôn, theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Lan đối với anh Shen Cheng Chu.

[3.2] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị Lan xác định không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Anh Shen Cheng Chu không có ý kiến phản hồi liên quan về vấn đề con chung, tài sản chung, nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ kiện này. Trường hợp anh Shen Cheng Chu có đủ cơ sở để xác định có con chung, tài sản chung, nợ chung giữa anh và chị Lan thì có thể giải quyết bằng một vụ kiện khác khi có yêu cầu.

[4] Về án phí: chị Lan phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a, khoản 5, điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 37, 147, 227, 228, 238, 469, 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 3, 4, 50, 53 Luật hộ tịch; Điều 34 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Lan đối với anh Shen Cheng Chu về việc “Ly hôn”.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Ngọc Lan ly hôn với Shen Cheng Chu.

2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

3. Về án phí: chị Nguyễn Thị Ngọc Lan phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Lan đã nộp theo biên lai thu số 0002651 ngày 07/5/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (chị Lan đã nộp đủ án phí theo quy định).

4. Chị Nguyễn Thị Ngọc Lan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Anh Shen Cheng Chu được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ