vanban.org

Bản án 42/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn lành nhựt"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09-5-2023
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quang Đông

2. Bà Đặng Ngọc Thu

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Minh Bảo – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 09 tháng 5 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 39/2023/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc L, sinh năm 1986. (vắng mặt).

Nơi cư trú: Số nhà N ấp B, xã A, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Anh Hồ Hùng N, sinh năm 1987. (vắng mặt).

Nơi cư trú: Số nhà A đường P, Khóm H, Phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 19/9/2022 và tại phiên hòa giải chị Phạm Ngọc L trình bày:

Về hôn nhân: Chị L và anh Hồ Hùng N sau thời gian tìm hiểu thì tiến tới hôn nhân, được sự đồng ý của gia đình hai bên chị và anh N đã tổ chức lễ cưới. Sau lễ cưới chị và anh N có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân Phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 03/10/2012. Sau đám cưới chị và anh N sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị và anh N bất đồng quan điểm, anh N không chăm lo đời sống gia đình. Chị và anh N đã nhiều lần cho nhau cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Từ đầu năm 2023 đến nay chị và anh N đã ly thân nhau, hiện tại chị đã về nhà cha mẹ ruột để sống cùng con chung của chị và N. Nay tình cảm vợ chồng giữa chị và anh N không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị L và anh N có 01 con chung tên là Hồ Phạm Bảo A, sinh ngày 25/01/2017, cháu Bảo A hiện nay do chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Hồ Phạm Bảo A, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi dưỡng cháu Bảo A

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh N không có tài sản chung, không có nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Hồ Hùng N đã được Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do; không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của chị Phạm Ngọc Lành.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn Phạm Ngọc L có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu ly hôn đối với anh N.

Bị đơn Hồ Hùng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn” quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 29/3/2023 chị Phạm Ngọc L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Hồ Hùng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Ngọc L và anh Hồ Hùng N là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo tài liệu, chứng cứ do chị Phạm Ngọc L nộp có trong vụ án thể hiện

Về hôn nhân: Chị Phạm Ngọc L và anh Hồ Hùng N tiến tới hôn nhân do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân Phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 03/10/2012, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 107, ngày 03/10/2012. Quá trình chung sống chị Phạm Ngọc L và anh Hồ Hùng N phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, kinh tế gia đình, hiện tại chị Phạm Ngọc L và anh Hồ Hùng N đã ly thân không còn sống chung với nhau. Xét thấy hôn nhân giữa chị L và Anh N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu ly hôn với anh N là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Phạm Ngọc L và anh Hồ Hùng N có 01 con chung tên là Hồ Phạm Bảo A, sinh ngày 25/01/2017. Hiện nay cháu Hồ Phạm Bảo A do chị Phạm Ngọc L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Hồ Phạm Bảo A và không yêu cầu anh Hồ Hùng N cấp dưỡng nuôi dưỡng cháu Hồ Phạm Bảo A là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Ngọc L và anh Hồ Hùng N không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Phạm Ngọc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về nội dung:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Ngọc L, cho chị Phạm Ngọc L ly hôn anh Hồ Hùng N.

Về con chung: Giao cháu Hồ Phạm Bảo A, sinh ngày 25/01/2017 cho chị Phạm Ngọc L tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, anh Hồ Hùng N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Hồ Hùng N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu anh Hồ Hùng N lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Phạm Ngọc L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con đối với anh Hồ Hùng N.

Về tải sản chung, nợ chung: Không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Ngọc L chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số N00001849, ngày 08 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ